Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng



R. B. Smith 1
School of Oriental and African Studies, University of London


Ngô Bắc dịch

            Những năm 1916-17 đúng là có một điều gì đó của một khúc quanh trong sự phát triển trong chủ nghĩa dân tộc Việt Nam.  Tại Nam Kỳ (Cochinchina), một cuộc tấn công không thành công vào nhà tù trung ương Sàigòn trong tháng Hai 1916 được tiếp nối bởi nhiều vụ bắt bớ lớn lao và sự phá hoại thực sự, trong thời gian này, của mạng lưới các hội kín vốn đã tăng trưởng tại nhiều tỉnh ở thuộc địa trong suốt thập niên trước.  Nhiều đoàn viên của các hội kín như thế đã bị mang ra trước các pháp đình quân sự đặc biệt (được biện hộ bởi sự kiện rằng nước Pháp đang trong thời chiến tại Âu Châu) và bị kết án tử hình, lưu đầy, hay án tù dài hạn.  Tại Trung Kỳ (An Nam), một âm mưu khác bị bóp chết, có lẽ hoàn toàn riêng biệt, được trù tính tại Huế trong Tháng Năm 1916, liên can đên việc bắt cóc vị hoàng đế thiếu niên, Duy Tân; nhưng nhà vua bị tìm thấy bởi người Pháp hai năm sau đó, trước khi một cuộc nổi dậy dự phóng tại các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi có thể được khởi sự.  Nhà lãnh tụ của âm mưu này, ông Trần Cao Vân, đã bị hành quyết cùng với ba người khác, và vị hoàng đế bị truất ngôi đã bị đầy sang đảo Réunion.2  Các biến cố này tại Nam Kỳ và Trung Kỳ đã đưa đến một sự đình chỉ, ít nhất trong một thời gian, các hoạt động của các nhóm dân tộc chủ nghĩa bí mật, mà nguồn cảm hứng ban đầu được rút ra từ Nhật Bản, vốn gia tăng sức mạnh từ khoảng năm 1905.  Tại Bắc Kỳ (Tongking), cũng đã có các hội đoàn bí mật, phần lớn nhìn nhận sự lãnh đạo của ông Phan Bội Châu, người khi đó đang lưu vong tại thành phố Quảng Châu (Canton), và bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các phương pháp cách mạng của Tôn Dật Tiên (Sun Yat-Sen).  Nhưng cũng có diễn ra, hoạt động quan trọng sau cùng của họ trong vài năm, hồi Tháng Chín 1917, khi Lương Ngọc Quyến, trốn thoát khỏi nhà tù ở Thái Nguyên và đã có thể nắm quyền kiểm soát thị trấn trong một tuần lễ, trước khi bị đánh đuổi và đã tự vẫn. 3  Chính ông Phan Bội Châu đã bị bắt giữ bởi Trung Hoa vào năm sau đó.
            Chính trong các tình huống này, với việc người Pháp thụ hưởng một sự kiểm soát vững chắc tại Đông Dương hơn bao giờ hết, đã bắt đầu xuất hiện tại Sàigòn một phong trào chính trị thuộc một loại khá khác biệt, được lãnh đạo bởi các người chuẩn bị sử dụng các phương pháp hiến định nhằm cố gắng cưỡng buộc chính quyền thực dân phải tuân hành đúng theo các lý tưởng được bày tỏ của chính nó.  Sự việc khởi đầu với sự thành lập, trong tháng Tám 1917, một tờ báo bằng Pháp ngữ, tờ La Tribune Indigène (Diễn Đàn Bản Xứ).  Sự ấn hành các tờ báo, hay bất kỳ thể loại văn chương nào khác, bằng tiếng Việt phải chịu các hạn chế nghiêm ngặt và sự kiểm duyệt thường trực, nhưng các ấn phẩm bằng tiếng Pháp thì được chấp thuận.  Từ lâu đã có một số nhật báo và tuần báo phục vụ cộng đồng người Pháp tại Sàigòn, và ít nhất một tờ trong chúng đã hoàn toàn bộc trực trong sự chỉ trích của nó đối với nhà chức trách đã được thiết lập: tức là tờ La Cochinchine Libérale, vốn được thành lập trong năm 1915 bởi ông Jules-Adrien Marx.  Nhưng vào lúc này đã có một số lượng gia tăng dân cư của Sàigòn là những kẻ, mặc dù là người Việt Nam khi sinh ra và nói tiếng mẹ đẻ, nhưng là người Pháp về mặt giáo dục và trong một số trường hợp, có quốc tịch Pháp.  Một thiểu số nhỏ có quốc tịch Pháp có quyền tự do như bất kỳ công dân nào khác của nước đó để thành lập một tờ báo bằng Pháp ngữ, và một người trong họ, ông Nguyễn Phú Khai, đã thành lập tờ La Tribune Indigène4  Ông Khai, nguyên quán tỉnh Bà Rịa, đã được giáo dục tại Pháp như một người được bảo trợ bởi [ký giả] Pierre Loti, nhưng khi hồi hương, đã quyết định chống lại việc xin việc làm trong công sở thực dân Pháp.  Ông lập luận rằng đồng bào ông từ lâu đã bị ám ảnh bởi ý tưởng làm công chức [function, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], bất luận trong chế độ quan lại cũ hay trong sự phục vụ người Pháp, với kết quả rằng họ đã trở nên bị bóc lột về mặt kinh tế bởi người Trung Hoa một cách chặt chẽ y như họ bị cai trị về mặt chính trị bởi người Pháp.  Nếu đất nước có bao giờ làm được bất kỳ sự tiến bộ nào, nhu cầu đầu tiên của nó không phải dành độc lập về chính trị, mà lại sự canh tân hóa về kinh tế, có nghĩa người Việt Nam sẽ phải đi vào các nghề khác ngoài công việc chính phủ.  Chính trong tinh thần này mà ông Nguyễn Phú Khai đã tự mình gắng sức để thành lập nhà máy xay lúa do người Việt làm chủ đầu tiên tại Mỹ Tho trong năm 1915, nhằm cạnh tranh với người Trung Hoa. 5
            Các quan điểm của ông được chia sẻ bởi một người Nam Kỳ khác, có lẽ là kẻ thúc đẩy chính yếu đàng sau sự thành lập tờ báo và người lãnh đạo thực sự của nhóm ủng hộ tờ báo.  Người này là ông Bùi Quang Chiêu (1873-1945), người con trai thứ nhì của ông Bùi Quang Đại [?], nguyên quán quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre trong vùng châu thổ,  thuộc gia đình có truyền thống mạnh mẽ theo Nho Học lẫn chống đối người Pháp. 6  Bản thân ông Chiêu theo học ở một trường Pháp và, bất kể một vài sự miễn cưỡng từ phía cha của ông, ông đã chụp lấy cơ hội để ra đi và theo học ở hải ngoại.  Trước tiên ông đến Algiers, nơi mà người che chở cho ông là cựu hoàng Hàm Nghi, kẻ đã bị người Pháp lưu đày đến đó trong năm 1888; và sau đó đến chính nước Pháp.  Trở về nước năm 1917, ông gia nhập vào công việc của Phủ Toàn Quyền Đông Dương vào lúc bắt đầu có các sự cải cách của Paul Doumer, và không lâu sau đó được bổ nhiệm về Sở Canh Nông (Service Agricole).  Có khả năng chuyên môn về kỹ sư nông nghiệp, và đặc biệt về ngành trồng dâu nuôi tằm, ông ở vào vị thế thăng tiến cao hơn nhiều trong công vụ thuộc địa so với các thư ký và các thông dịch viên vốn tạo thành khối đông đảo thành viên bản xứ trong guồng máy hành chính.  Vào năm 1913 ông thuyết trình tại Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) như một chuyên viên về lụa. 7  Bởi ông được tuyển dụng bởi Phủ Toàn Quyền chứ không bởi Chính Quyền Nam Kỳ, ông đã được bổ nhiệm tại các kỳ khác nhau trong Liên Bang, và trong những năm đầu tiên của thế kỷ này [thứ hai mươi, bài này được ấn hành năm 1969, chú của người dịch], ông có mặt ở Huế.  Rất có thể ông đã gặp ở đó các nhân vật nổi tiếng gần thời đại của ông, ông Phan Bội Châu (1867-1940) và ông Phân Chu Trinh (1872-1926), các người mà trong năm 1904 ở trong số các nhà thành lập ra Duy Tân Hội (Reformation Association).  Tuy nhiên, ông Chiêu bị cách biệt với các nhân vật như thế bởi một biển học to lớn, bởi trong khi ông đã thành công trong hệ thống của Pháp ở Đông Dương, họ lại tiếp nhận nền giáo dục Trung Hoa cần thiết để chuẩn bị cho họ trong các cuộc khảo thí làm quan của An Nam.  Rất nhiều phần rằng ông Chiêu đã không tham gia vào phong trào Duy Tân, nhưng có lẽ ông có hay biết về sự hiện diện của nó và về nỗ lực mà phong trào đưa ra trong các năm 1905-8 nhằm thuyết phục thanh niên rời nước và đi học tại Nhật Bản.  Quan điểm riêng của ông rõ ràng là bởi Việt Nam không thể nào hy vọng  sẽ thành công trong việc canh tân hóa kinh tế và xã hội của mình nếu không có sự trợ giúp từ bên ngoài, nó có thể học hỏi từ Pháp giống như từ người Nhật.  Vào năm 1906 ông Chiêu đang làm việc tại Hà Nội, và trong Tháng Tám năm đó, ông được đề cập tới như là vị chủ tịch đầu tiên của một Hội Tương Trợ (Société de Secours Mutuel) được thành lập bởi cư dân Nam Kỳ tại miền Bắc Kỳ. 8  Hội tương trợ lẫn nhau là một tổ chức mang đặc tính Việt Nam, và trong thực tế các hội kín có các hoạt động chính trị làm kinh hoàng người Pháp rất nhiều, đã có như một trong các mục đích chính yếu của chúng, mục tiêu giúp cho các hội viên nương tựa vào người khác khi cần thiết.  Người Pháp đã sẵn sang để cấp phép cho các hội không có mục đích chính trị, và ông Bùi Quang Chiêu đã làm nhiều việc để phát huy sự khai triển các hội hợp pháp thuộc loại này.  Vài năm sau đó, trở lại Sàigòn, ông đã đóng một vai trò lãnh đạo trong sự tạo lập một hội của các cựu học sinh Trường Collège Chasseloup-Laubat, cũng như trong sự mở rộng Hội Giáo Dục Tương Trợ (Société d’Enseignement Mutuel) nguyên thủy được thành lập bởi người Pháp tên A Salles.  Vào năm 1918, ông là chủ tịch của cả hai hội. 9  Chính từ các hội thuộc loại này mà Đảng Lập Hi9ến đã được tạo lập.
            Từ Tháng Tư năm 1919, trang đầu của tờ La Tribune Indigène mang tiêu đề “cơ quan của Đảng Lập Hiến”, nhưng đảng rõ ràng đã được thành lập cùng lúc với tờ báo, với ông Chiêu là lãnh tụ thực sự của nó và có lẽ chỉ với một nhóm nhỏ các người thân cận làm đảng viên.  Cả các mục tiêu lẫn phương thức của nó được nêu ra trong danh xưng của đảng.  Nó hy vọng đạt được, xuyên qua sự hành động của chính người Pháp, các sự cải cách sẽ dẫn tới sự canh tân hóa đất nước và một mức độ tự do lớn hơn cho các cư dân của nó.  Ngay từ 1908, ông Phan Châu Trinh đã kêu gọi Toàn Quyền Pháp hãy đối xử với người dân một cách ưu ái hơn nếu ông ta muốn có sự ủng hộ của họ; nhưng ông ta chỉ làm như thế trong các điều kiện rất tổng quát, ngoài lời thỉnh cầu cắt giảm các sắc thuế. 10  Phe Lập Hiến mặt khác quan tâm đến việc dành đạt các sự cải tổ cụ thể, và các cột báo của họ đầy các sự thảo luận về các sự cải cách nào cần phải có.  Không có bản tuyên ngôn thông thường về các mục tiêu của Đảng còn tồn tại từ thời kỳ ban sơ này, nhưng có lẽ chúng cũng gần giống như những gì được phát biểu bởi ông Diệp Văn Cương trong bài diễn văn hồi tháng Chín 1917 trước Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ (Conseil Colonial de la Cochinchine) nơi mà ông là một trong sáu hội viện bản xứ. 11
            Ông Diệp Văn Cương (1876-1918) sinh ra tại Bạc Liêu nhưng định cư tại Bến Tre và hẳn phải là một người quen biết của ông Bùi Quang Chiêu nếu không thực sự là một đảng viên trong đảng của ông; ông ta có thể trở nên nổi bật hơn nữa trong phong trào nếu ông không chết đi vào Tháng Một 1918. 12  Trong bài diễn văn này, ông nêu ra sáu đòi hỏi cụ thể cho sự cải cách: thứ nhất, sự biến đổi  [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] cổ truyền (công xã địa phương) thành các thành phố chính danh với các hội đồng do dân bầu ra; thứ nhì, xóa bỏ những gì còn lại của hệ thống quan lại cổ truyền tại Nam Kỳ và thay thế nó bằng một hệ cấp hành chính hiện đại hơn; thứ ba, cắt giảm số công chức người Việt không quan trọng và tăng lương đáng kể cho số còn lại; thứ tư, bổ nhiệm tại mỗi tổng một thẩm phán hòa giải [juge de paix, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] độc lập với thẩm quyền hành pháp; thứ năm, cải cách luật nhập tịch để tạo dễ dàng hơn cho người Việt Nam trở thành công dân Pháp; và thứ sáu, mở rộng sự đại diện bản xứ trong Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) để có số đại biểu người Pháp và người Việt ngang nhau, với các đại biểu kể sau được tuyển cử trong một cuộc đầu phiếu rộng rãi hơn nhiều.
            Các hy vọng của phe Lập Hiến được nâng cao bởi sự kiện rằng trong năm 1917 viên Toàn Quyền Đông Dương mới là Albert Sarraut, kẻ mà các lời phát biểu công khai cho thấy ông ta có thể sẵn lòng áp dụng một cách chân thành triết lý của thực dân về sự “liên kết” (association), và giải thích nó theo một ý nghĩa thực sự mang lại sự tiến bộ cho thuộc địa.  Trong một số khía cạnh, điều mà các ông Bùi Quang Chiêu và Diệp Văn Cương mong muốn là sự đồng hóa (assimilation) hơn là sự liên kết (association): sự du nhập tính hiện đại theo kiểu Pháp nhiều hơn chứ không phải ít đi.  Nhưng họ cũng muốn sự tiến triển hiến định theo kiểu Pháp, và trong các tình huống của năm 1917, có nhiều cơ may để đạt được điều đó từ các chính trị gia chủ trương liên kết hơn là từ các nhà hành chính theo chủ trương đồng hóa.  Như sự việc diễn ra, Sarraut quan tâm nhiều đến các sự cải cách giáo dục hơn là dến các sự thay đổi chính trị hay hành chính, và dành phần lớn năng lực của ông đến việc hoàn thành cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ loại giáo dục Pháp đã sẵn hiện hữu tại Nam Kỳ; trong diễn tiến, ông ta đã xóa bỏ các cuộc khảo thí cổ truyền, và thiết lập một đại học tại Hà Nội. 13  Bởi thế, phe Lập Hiến, mặc dù bản thân họ không phải là không quan tâm đến giáo dục, song vẫn chưa đạt được bất kỳ điều nào trong các mục tiêu đề ra bởi ông Cương vào lúc nhiệm kỳ của Sarraut làm Toàn Quyền chấm dứt trong năm 1919.
            Vào khoảng giữa năm 1919 họ quay trở về với một chủ đề từ lâu ấp ủ trong lòng của ông Nguyễn Phú Khai, tức sự khống chế của người Hoa trên nền kinh tế Nam Kỳ.  Vào ngày 28 Tháng Tám, tờ La Tribune Indigène công bố lời loan báo rằng sẽ có một sự tẩy chay người Trung Hoa, và hai ngày sau đó một Hội Thương Mại An Nam (Société Commerciale Annamite) được thành lập, với ông Khai làm chủ tịch. 14  Các phó chủ tịch của hội là ông Nguyễn Chánh Sắt, chủ bút tờ báo bằng Việt ngữ Nông Cổ Mín Đàm (một tuần báo phát hành từ năm 1901 cho đến 1924) và ông Trần Quang Nghiêm, một tiểu thương gia; nó đã tổ chức phiên họp đầu tiên tại trụ sở của Hội Giáo Dục Tương Trợ (Société d’Enseignement Mutuel).  Trong Tháng Mười, [phong trào] được tiếp nối với sự thành lập một Ngân Hàng An Nam (Banque Annamite), và hồi đầu Tháng Mười Một các người tẩy chay đã tổ chức một Hội Nghị Kinh Tế Nam Kỳ (Congrès Économique de la Cochinchine) được tham dự bởi các đại diện từ mười sáu trong hai mươi tỉnh của thuộc địa. 15  Tuy nhiên, các hội nghị cho thấy chúng dễ dàng để tố chức hơn là [có được] hành động kinh tế của đại chúng, và người Trung Hoa đã nắm sự kiểm soát quá chặt chẽ trên công cuộc mậu dịch lúa gạo, nên khó cảm thấy bị quấy rầy một cách nghiêm trọng bởi bất kỳ hoạt động nào nhẹ ký hơn.  Vào khoảng giữa năm 1920, cuộc tẩy chay lịm dần, và ngoài việc lôi cuốn vào hoạt động thương mại thêm được một ít người Việt Nam so với trước đó, nó chỉ đạt được sự thay đổi kinh tế chút ít.  Dù thế, nó chứng tỏ rằng giới tinh hoa do Pháp đạo tạo của Nam Kỳ có khả năng tự tổ chức họ, và họ đã dành được từ đó kinh nghiệm chứng tỏ quý báu sau này.
            Một công việc táo bạo thứ nhì của phe Lập Hiến vào cùng lúc đó là chiến dịch của họ nhằm ủng hộ một trong các ứng cử viên trong cuộc bầu cử chức dân biểu Nam kỳ (député de la Cochinchina) diễn ra vào ngày 1 Tháng Mười Hai năm 1919.  Là một thuộc địa, Nam Kỳ được có đại diện tại Quốc Hội Pháp, nhưng chỉ có các công dân Pháp mới hội đủ điều kiện để bỏ phiếu. Hai ứng cử viên chính là Ernest Outrey, nguyên là một viên chức cao cấp tại thuộc địa, và Paul Monin, một luật sư khuynh hướng tự do đã sống tại Sàigòn nhiều năm; phe Lập Hiến ủng hộ Monin, nhưng ông ta chỉ được 396 phiếu so với 1,486 phiếu bầu cho Outrey.  Ngay giới tinh hoa Việt Nam tại Sàigòn không cách nào thống nhất đàng sau Monin: Outrey đã có sự ủng hộ của một nhóm tự xưng là Hội Những Người An Nam Công Dân Pháp (Société đes Annamites Citoyens Franҫais), đứng đầu bởi một ông Diệp Văn Cương (khác), kẻ sau này đã bị kết án mạnh mẽ bởi phe Lập Hiến. 16
            Điều rõ rệt rằng một số người Việt Nam do Pháp đào tạo sẽ không bao giờ đứng lên chống lại các thực dân [colons, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] Pháp bảo thủ, ngay trong phạm vi cho phép bởi luật pháp.  Chính phe Lập Hiến sau này bị nhìn bởi các nhóm cực đoan hơn như phe thân Pháp, nhưng họ không đủ ngoan ngoãn để ưa thích Outrey.  Hơn nữa, giữa các năm 1917 và 1924 họ thực sự là nhóm chính trị có tổ chức duy nhất tại Nam Kỳ, vào một lúc mà sự đối lập thuộc bất kỳ loại nào cực đoan hơn sẽ bị đàn áp một cách khốc liệt.  Trong suốt các năm đó, họ đã có khả năng gia tăng số người theo họ trong cộng đồng người Việt.  Trong năm 1920, một tờ báo bằng Pháp ngữ khác được thành lập tại Sàigòn bởi người Việt Nam.  Đây là tờ L’Écho Annamite (Tiếng Vang An Nam), mà sáng lập viên thực tế là ông Nguyễn Phan Long, mặc dù ông đã không trở thành chủ biên mãi cho đến hai năm sau.  Sự móc nối của ông với ông Bùi Quang Chiêu trước thời gian này không rõ rệt, nhưng ngay trong năm 1919 ông có biểu lộ tình cảm đối với tờ La Tribune Indigène qua việc đóng góp cho tờ báo một truyện đăng nhiều kỳ nhan đề Le Roman de Mademoiselle Lys (Chuyện Cô Lys), trong đó ông đưa vào các sự suy tưởng của mình về các vấn đề của các cá nhân cũng như của thuộc địa có văn hóa một phần Pháp và một phần Việt Nam. 17  Một biến cố khác của năm 1920 có thể được ghi nhận thoáng qua: sự thành lập tại Paris, trong Tháng Mười Một của năm đó, một Hội Tương Trợ Đông Dương (Association Mutuelle des Indochinois).  Một trong những người sáng lập là ông Nguyễn Phú Khai, kẻ có lẽ đã ở Pháp từ năm 1920 đến 1923; các sáng lập viên khác là Bác Sĩ y khoa Lê Quang Trinh [?], và luật sư Dương Văn Giáo. 18  Vào thời điểm này, đã có nhiều người Việt Nam sẵn lòng ủng hộ một tổ chức thuộc loại này hơn là chuẩn bị để đi theo ông Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) để gia nhập Đảng Cộng Pháp mà ông ấy giúp vào việc thành lập tại Tours trong tháng sau đó.
            Vào khoảng giữa năm 1921, tờ La Tribune Indigène đã khởi sự một chiến dịch đòi hỏi sự cải tổ Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) và mở rộng sự đại diện của người Việt Nam.  Vào lúc này ông Sarraut đã được kế nhiệm trong chức Toàn Quyền bởi một kẻ theo “phe liên kết” khác, ông Maurice Long, kẻ đã giữ chức vụ từ năm 1920 cho đến khi ông từ trần vào năm 1922.  Không có gì nghi ngờ rằng nhờ ở thái độ cởi mở của ông ta mà chiến dịch đòi cải tổ đã đạt được một số thắng lợi, chiếu theo sắc lệnh ngày 9 Tháng Sáu năm 1922, đã gia tăng số đại diện bản xứ trong Hội Đồng từ sáu lên mười người, và mở rộng cử tri đoàn người Việt từ khoảng 1,500 người lên hơn 20,000 người. 19  Tuy nhiên, vào lúc đó, số hội viên người Pháp thực sự được gia tăng lên thành mười bốn người khiến cho họ vẫn còn nắm đa số; và 20,000 người không phải là một cử tri đoàn to lớn trên một dân số hơn ba triệu người.  Các cuộc tuyển cử đầu tiên theo các sự quy định mới đã được tổ chức trong các Tháng Mười và Mười Một 1922, và mười hội viên bản xứ được tuyển cử bao gồm một số đảng viên Đảng Lập Hiến.  Nổi bật nhất trong họ là ông Nguyễn Phan Long, người đã trở thành Phó Chủ Tịch Hội Đồng cũng như phát ngôn viên chính của Đảng ở đó; ông đại diện cho đơn vị tuyển cử bao gồm cả Sàigòn. 20  Một lãnh vực khác trong đó ông Maurice Long đã chuẩn bị để thực hiện các sự thay đổi được hoan nghênh bởi phe Lập Hiến là giáo dục.  Giữa thời cuối năm 1918 và cuối năm 1922 số trường tiểu học tại Nam Kỳ đã gia tăng từ 905 lên 1,017, và một trường trung học thứ ba, hay trường cao đẳng (college), được thành lập tại Cần Thơ. 21  Nhưng nhịp độ phát triển đã không được duy trì, và ít năm sau đó, chúng ta thấy ông Bùi Quang Chiêu vạch ra rằng mặc dù số học trò tại các trường ở Nam Kỳ đã gia tăng gấp mười lần giữa các năm 1904 và 1924, tổng số 72,809 trong năm kể sau không phải là một tỷ lệ rất lớn so với 600,000 trẻ em trong tuổi đến trường. 22  Phe Lập Hiến vì thế khởi sự thành lập “các trường miễn phí” dưới sự quản lý của chính họ.  Trong năm 1923, ông Nguyễn Phan Long có mở một “trường tư thục nội trú” [pensionnat, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] tại Gia Định, và vào cùng lúc, ông Bùi Quang Chiêu có thành lập một trường tưng tự được gọi là An Nam Học Đường tại Phú Nhuận, thuộc ngoại ô Sàigòn. 23  Nhưng các nhà hành chính Pháp ít nhiệt tình hơn về tất cả sự mở rộng giáo dục này, và trong Tháng Chín 1924, một sắc lệnh đã hạn chế nghiêm ngặt sự thành lập các trường tư thục.  Dù thế, trường học của ông Bùi Quang Chiêu vẫn còn tồn tại trong năm 1927, khi ông Tạ Thu Thâu, một lãnh tụ sau này của phe Công Sản Trotsky tại Đông Dương, đã là một thày giáo ở đó trước khi ông xuất dương sang Pháp. 24
            Trong các năm 1923-4, nhiệt độ chính trị tại Sàigòn bắt đầu lên cao khi các đảng viên Lập Hiến nhận thấy mình ngày càng cách biệt với phe bảo thủ người Pháp vào lúc đó đang kiểm soát chính quyền Nam Kỳ.  Người kế nhiệm Maurice Long làm Toàn Quyền là ông Merlin dè dặt hơn (kẻ đã là đối tượng của một mưu toan ám sát khi ông ta thăm viếng Thành Phố Quảng Châu hồi Tháng Sáu 1924); và viên Phó Thống Đốc Nam Kỳ mới, Maurice Cognacq, 25 được bổ nhiệm trong Tháng Hai 1922, là kẻ bảo thủ với kinh nghiệm lâu năm tại Nam Kỳ.  Sự đụng độ quan trọng đầu tiên giữa Cognacq và phe Lập Hiến xảy ra hồi Tháng Mười Một 1923, khi ông Nguyễn Phan Long phát biểu tại Hội Đồng Thuộc Địa chống lại các đề nghị cho một quy ước mới của hải cảng Sàigòn.  Ông đã trình bày hùng hồn nhưng không thể ngăn cản sự thông qua bản quy định tại Hội Đồng với một đa số mười bốn phiếu trên bẩy. 26 
            Trong Tháng Một và Tháng Hại phe Lập Hiến thực hiện một chiến dịch hội họp và diễn thuyết để cố gắng có được một sự đảo ngược quyết định, và lần đầu tiên điều gì đó giống như công luận đã được khơi động tại Sàigòn.  Một tờ báo định kỳ bằng tiếng Việt, Nam Kỳ Kinh Tế Báo (Economic Journal of Cochinchina) đã bị đóng cửa hồi đầu năm 1924 vì tội không đếm xỉa đến sự kiểm duyệt về vấn đề này. 27 Chính quyền lập luận rằng đó là một vấn đề chính trị, trong khi phe Lập Hiến tuyên bố rằng nó hoàn toàn là một câu hỏi kinh tế; nhưng không có gì phải ngờ vực về phe bên nào mạnh hơn, và chính quyền đã dành được chiến thắng trong dip này.  Phần lớn sự chua chát của các kẻ chống đối bản quy định về hải cảng phát sinh từ sự kiện rằng tại Hội Đồng Thuộc Địa một số các đại biểu bản xứ đã bỏ phiếu chấp thuận nó, nổi bật là Bác Sĩ Lê Quang Trinh, kẻ đã nhận được sự ủng hộ của đảng Lập Hiến trong cuộc bầu cử năm 1922.  Ông đã bị tấn công một cách mạnh mẽ trên các cột báo của tờ La Tribune Indigène, và trong Tháng Ba 1924, ông đã trả miếng bằng việc thành lập một tờ báo của chính ông, tờ Le Progrès Annamite (Tiến Bộ Của An Nam).  Cuộc tranh chấp kết thúc bằng sự kiện cáo, và ông Lê Quang Trinh bị phạt tại Tòa Cải Chính hay Cải Huấn [?] (Tribune Correctionnel) về tội phỉ báng. 28
            Tờ Le Progrès Annamite là tờ báo bằng Pháp ngữ thứ tư tại Sàigòn được điều hành bởi và dành cho người Việt.  Tờ thứ ba được thành lập trong tháng Mười Hai 1923 bởi các ông Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường: tờ La Cloche Fêlée (Cái Chuông Rè).  Giống như các ông Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phú Khai, ông Nguyễn An Ninh (1900-43) đã theo học tại Pháp và đã hấp thụ các lý tưởng chính trị của Pháp. 29  Nhưng ông thuộc vào một thế hệ mới và nóng nảy hơn nhiều so với các người lớn tuổi hơn.  Khởi đầu, ông tán thành các mục tiêu của họ về tiến triển theo hiến định, nhưng ngay từ năm 1923 ông có viết về khả tính rằng các mục tiêu đó có thể không đạt được một cách mau chóng bằng các phương thức hòa bình, có thể cần đến phương sách bằng bạo lực. 30  Phe Lập Hiến nhận thấy mình trong năm 1924 đi theo con đường trung lập, giữa các người trong đồng bào của họ đi theo sự dẫn đạo của các ông Diệp Văn Cương và Lê Quang Trinh trong việc ủng hộ các kẻ thực dân (colons) bảo thủ, và những người đã bắt đầu nghĩ đến bạo lực.  Triết lý của họ được tóm lược bằng chữ nghĩa của một bài xuất hiện trên tờ La Tribune Indigène hồi giữa năm 1923: 31
            “Có hai cách để chinh phục tự do: bằng súng đại bác hay bằng văn hóa; chúng tôi chọn văn hóa.” [Il y a deux faҫons de conqueror la liberté: par la canon ou par la culture; nous sommes pour la culture, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch].
            Về mặt chính trị của Pháp, ông Bùi Quang Chiêu rõ ràng đã là một đảng viên của Đảng Cấp Tiến và Xã Hội Chủ Nghĩa Cấp Tiến (Parti Radicale et Radical-Socialiste) với một chi nhánh được thành lập tại Sàigòn trong Tháng Tám 1924.  Đảng này không nghiêng đủ về cánh tả đối với ông Nguyễn An Ninh, người sau này trở thành Cộng Sản, nhưng nó lại quá đáng đối với Outrey.  Có lẽ vì hành động của kẻ kể tên sau mà vào đầu Tháng Một 1925 ông Chiêu bị thuyên chuyển đến một nhiệm sở tại Căm Bốt; ông hiển nhiên là một ảnh hưởng gây xáo trộn tại Sàigòn và tốt hơn là nên được đẩy đi cho khuất mắt. 32  Trong tháng Hai, tờ La Tribune Indigène bị đóng cửa.  Trong khi đó, ở Paris, ông Dương Văn Giáo và một cảm tình viên người Phap, ông Georges Grandjean đã thành lập một Nhóm Lập Hiến (Groupe Constitutionaliste) và đã thuyết phục ông Phan Châu Trinh làm chủ tịch.  Nhóm đã đóng góp một phần nào trong các bước tiến dẫn chính phủ Pháp đến việc cho phép ông Trinh được trở về Sàigòn (nhưng không về miền Trung Kỳ sinh quán của ông) sau này trong năm 1925. 33
            Trong phần lớn năm 1924 phe Lập Hiến đã không có cơ quan ngôn luận chính thức, mặc dù tờ L’Écho Annamite của ông Nguyễn Phan Long tiếp tục ấn hành.  Tuy nhiên, trong ít tháng của mùa hè, và một lần nữa trong mùa đông của năm đó, một tờ báo khác đã có một loạt bài đả kích lại các chính sách của Cognacq và tình trạng tham nhũng nói chung: tờ Indochine của Paul Monin và André Malraux. 34  Từ giữa Tháng Sáu đến giữa Tháng Tám 1925, tờ báo chống đối viên Thống Đốc dữ dội đến nỗi ông ta tìm cách đóng của tờ bào bằng cách đe dọa mọi nhà in tại Sàigòn.  Tờ báo tái xuất bản trong tháng Mười Một, dưới tên L’Indochine Enchainé (Đông Dương Bị Xiềng Xích), dùng máy in nhập lậu từ Hồng Kông, và xuất bản được vài tháng nữa.  Chính Malraux đi đến Hồng Kông vào lúc này, và cũng thực hiện một cuộc thăm viếng ngắn tại Thành Phố Quảng Châu.  Cả hai nơi đều rơi vào sự kiềm tỏa của phong trào đình công mở màn cho cuộc cách mạng thứ nhì của Trung Hoa, và trong bối cảnh của các biến cố này, người ta hẳn phải nhìn thấy sự quan tâm gia tăng của Cognacq và bạn hữu ông ta về các phong trào chống đối tại Đông Dương.  Không rõ ở giai đọan chính xác nào mà họ hay biết được rằng trong Tháng Sáu 1925, cán bộ Văn Phòng Cộng Sản Quốc Tế (Comintern) Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Hội tại Thành Phố Quảng Châu.
            Đây là lúc bắt đầu nhìn như thể chính quyền tại Nam Kỳ sẽ không dung chấp sự đối lập thuộc bất kỳ loại nào, và cũng sẽ không thực hiện các sự cải cách nghiêm chỉnh, khi vào Tháng Bẩy 1925, chính phủ mới ở Paris đã bổ nhiệm làm Toàn Quyền Đông Dương một người phe xã hội chủ nghĩa, ông Alexandre Varenne.  Một lần nữa có hy vọng rằng các đòi hỏi của phe Lập Hiến sẽ có thể được đáp ứng, và nó đã không hoàn toàn bị hủy diệt bởi cuộc phỏng vấn công khai giữa viên Toàn Quyền mới đến với ông Nguyễn Phan Long trong Tháng Mười Một khi ông Varenne nói rõ rằng sẽ không thể nào chấp thuận các quyền tự do đầy đủ ngay tức thì. 35  Sự thử nghiệm cụ thể đầu tiên của ông là vụ án ông Phan Bội Châu, người vừa mới bị kết án chung thân khổ sai sau sự bắt giữ ông tại Thượng Hải hồi Tháng Sáu.  Đã có sự lên tiếng ồn ào của quần chúng, y như ở Paris, tại Sàigòn và Hà Nội; và theo đúng thủ tục, Varenne đã đi đến quyết định rằng nhà tranh đấu dân tộc chủ nghĩa kỳ cựu sẽ phải được phóng thích, nhưng chỉ cho phép sống ở Huế và không được du lịch trong nước cũng như hải ngoại. 36  Vào khoảng cuối năm ông Bùi Quang Chiêu quyết định tự mình đi sang Paris, và liên kết với ông Dương Văn Giáo trong một bản lên tiếng để thuyết phục chính phủ tại Paris về tính chất đáng mong muốn của các sự cải cách.
            Các khát vọng của họ được ghi nhận trong một bài báo mà họ đã góp mặt trong một tạp chí của Bỉ, tờ L’Essor Colonial et Maritime (Sức Bật Thuộc Địa và Hàng Hải). 37  Có sáu khát vọng [được đưa ra]: thứ nhất, các quyền tự do công dân căn bản, kể cả quyền được viết mà không bị kiểm duyệt bằng tiếng Việt, tự do hội họp và lập hội, và tự do du hành mà không cần giấy phép đặc biệt; thứ nhì: sự mở rộng hệ thống giáo dục, mang lại cho người Việt Nam các cơ hội thích đáng theo học bậc đại học; thứ ba, một sự gia tăng số viên chức bản xứ, với các trách nhiệm và sự trả công tương xứng với học vấn của họ; thứ tư, sự đại diện thích hợp của người Việt Nam, cả ở chính Đông Dương và tại Quốc Hội, và sự thiết lập tại Paris một Ủy Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Commission d’Études Indochinoises) để cố vấn chính phủ, với các đại diện dân cử từ thuộc địa; thứ năm, cải cách hệ thống tư pháp, và áp dụng tại Đông Dương pháp chế xã hội và lao động hiện hành tại Mẫu Quốc Pháp; và thứ sáu, bãi bỏ các độc quyền về rượu và thuốc phiện.  Các đòi hỏi như thế đã tạo ra một tác động trên một số người Pháp, chẳng hạn như ông Georges Garros có quyển Les Forceries Humaines xuất bản cùng năm đó, và các thanh niên cấp tiến như André Malraux.  Nhưng chúng chỉ có một tác động rất nhỏ trên chính quyền, và ông Chiêu đã quay lại Sàigòn hồi Tháng Ba 1926 với bàn tay trắng.
            Ông được đón tiếp tại bến tàu bằng một cuộc biểu tình của các thực dân (colons) Pháp chống đối các ý tưởng của ông, nhưng ít ngày sau đó đã có một cuộc phản biểu tình ủng hộ ông bởi các thành viên của phong trào các người trẻ hơn sẽ được gọi là Jeune Annam (Thanh Niên An Nam).  Không lâu sau đó cái chết đã xảy đến cho ông Phan Châu Trinh, và đám tang ông vào Chủ Nhật Phục Sinh đã tạo ra cơ hội cho một cuộc biểu tình bởi 25,000 người dự đám ma và một cuộc đình công của các phu khuân vác các nhà máy xay lúa trong Chợ Lớn.  Học trò tại một số trường học đeo băng tang màu đen, và khi việc này bị cấm đóan và lệnh cấm không được đếm xỉa đến, một số em học sinh bị đuổi học; tại Mỹ Tho, đã có một sự đụng độ giữa các học sinh và dân quân địa phương. 38  Hai thành viên của Jeune Annam bị bắt giữ và bị kết án tù tại một phiên tòa ở Sàigòn hôm 23 Tháng Tư: Nguyễn An Ninh bị kết án hai năm về tội tuyên truyền cho một cuộc đấu tranh bạo động chống lại người Pháp, và Lâm Hiệp Châu một năm tù về việc công nhiên xúi dục sự làm loạn trong số báo độc nhất của một tờ báo, chính nó cũng mang tênJeune Annam.  39  Các thực dân (colons) bảo thủ tiến xa hơn, và thực hiện các sự chuyển động để cố gắng bãi nhiệm ông Varenne khỏi chức Toàn Quyền.  Vào ngày 27 Tháng Năm, Outrey đệ trình một đề nghị khiển trách ông tại Viện Dân Biểu.  Varenne được biện hộ bởi Bộ Trưởng Thuộc Địa và đề nghị bị bác bỏ, nhưng sự kiện rằng viên toàn quyền giờ đây xích mích với nhiều nhà hành chính của mình có nghĩa ông ta ít có cơ hôi để thực hiện các sự cải cách quan trọng.
            Trong Tháng Tám 1926, đảng lập Hiến tái lập tờ báo của họ, dưới tên La Tribune Indochinoise (Diễn Đàn Đông Dương), và một giai đoạn mới của sự hoạt động đầy sinh khí lại khởi sự.  Ông Bùi Quang Chiêu giờ đây chính thức là giám đốc của tờ báo, và sự quản lý của tờ báo nằm trong tay ông Nguyễn Kim Đính [?], người cũng điều hành một tờ báo Việt ngừ là tờ Đông Pháp Nhật Báo từ 1923 đến 1929. ((Một kết quả không phải là không quan trọng của mọi hoạt động báo chí từ năm 1917 là sự đào tạo tại Sàigòn một nhóm người với kinh nghiệm báo chí đáng kể).  Một mục trong số báo thứ nhì của cơ quan ngôn luận mới mang lại một số chỉ dấu về tình trạng chính trị Sàigòn vào lúc này.  Tại một phiên họp gần đây của Hội Đồng Thuộc Địa, một người Pháp tự do tên là Gallet đã đệ trình một đề xuất cho một “sự  tiến lại gần nhau giữa người Pháp và người An Nam” (rapprochement Franco-Annamite) mà ông Nguyễn Phan Long và phe Lập Hiến ủng hộ.  Nhưng năm người trong các hội viên Việt Nam hợp cùng phần lớn người Pháp để chống đối đề nghị và đề nghị này bị bác bỏ.  Rất có thể việc bỏ phiếu này làm gia tăng quyết tâm của phe Lập Hiến để đoạt lấy sự kiểm soát trên tất cả số ghế bản xứ tại Hội Đồng, và đó là điều họ đạt được trong kỳ bầu củ Tháng Mười 1926: tất cả mườì ứng cử viên phe Lập Hiến đều đắc cử và ông Bùi Quang Chiêu đã liên kết cùng với ông Nguyễn Phan Long với tư cách một hội viên. 40  Đây là một cao điểm trong sự thành công của đảng.
            Đên nay chúng ta quan tâm hầu như hoàn toàn chuyên chú vào các sự phát triển chính trị tại Nam Kỳ, nơi mà các luật lệ cho phép một vài mức độ đối lập với chính quyền trong một nền báo chí Pháp ngữ cởi mở hơn nhiều so với trường hợp của Trung Kỳ và Nam Kỳ.  Tại các miền kể sau này, giới tinh hoa do Pháp đào tạo ít hơn nhiều, và ngay các nhân vật hàng đầu như ông Phạm Quỳnh (1892-1945) còn bám víu vào truyền thống Khổng Nho cổ xưa nhiều hơn các đối tác của họ tại miền Nam.  Trong suốt các năm 1917 đến 1926, trong khi ông Bùi Quang Chiêu và các bạn hữu đang phát triển một nền báo chí băng Pháp ngữ cấp tiến hơn tại Sàigòn, ông Phạm Quỳnh đã đảm nhận sự chỉ đạo trong việc phát huy một ấn phẩm văn chương định kỳ bằngquốc ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] trong các giới hạn của một chế độ kiểm duyệt đã thực sự ngăn cản bất kỳ nội dung chính trị nào.  Tuy nhiên, ông cũng đã thành lập một tờ báo bằng tiếng Pháp, tờ France-Indochine, trong năm 1922, và đã chú ý đến một số vấn đề từng làm bận tâm phe Lập Hiến ở Nam Kỳ.  Trong mùa hè năm 1926, ông đề nghị thành lập một đảng chính trị hợp pháp tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ sẽ cộng tác với người Pháp trong việc phát huy sự phát triển tinh thần, kinh tế và tri thức của cộng đồng.  Ông đã dành được sự ủng hộ của ông Phan Bội Châu về ý tưởng này, nhưng không phải với Varenne, và sự thừa nhận pháp lý bị đình chỉ.  Một đảng mới trong tbực tế được thành lập tại Tourane (Đà Nẵng) trong Tháng Chín 1926, Đảng Tiến Bộ Của Người Dân Việt Nam (Parti Progressive du Peuple Annamite), nhưng không đạt được sự chấp thuận của ông Phạm Quỳnh và không bao lâu nó hoàn toàn bị xâm nhập bởi các kẻ cực đoan. 41  Ông Bùi Quang Chiêu hiển nhiên được tiếp xúc bởi các kẻ thành lập ra đảng kể sau, nhưng ông đã từ chối tham gia, có thể lo sợ rằng sự nới rộng đến các phong trào chính trị của Bắc Kỳ và Trung Kỳ khởi sự tại Nam Kỳ có thể đưa đến sự mở rộng xuống miền kể sau [miền nam] các quy định báo chí và chính trị rất hạn chế của các xứ bảo hộ.  Vì thế, Đảng Lập Hiến, mặc dù tự xưng là bao gồm Đông Dương, tiếp tục giới hạn các hoạt động của nó ở miền nam.  Vài năm sau đó, năm 1933, ông Phạm Quỳnh đã tham dự vào một nỗ lực thành lập một chính quyền “lập hiến” tại Huế dưới vị hoàng đế mới, Bảo đại, nhưng ông Ngô Đình Diệm có lẽ đã nghĩ đúng rằng sự thí nghiệm sẽ không bao giờ dẫn tới sự độc lập đích thực, dù theo chế độ lập hiến hay cách nào khác. 42
            Trong những năm 1927-28, tất nhiên đã có một số sự đua tranh giữa phe Lập Hiến và nhóm Thanh Niên An Nam (Jeune Annam) ít ôn hòa hơn; tuy nhiên nó vẫn chưa đến độ mà phe Lập Hiến phải tự tách biệt ra khỏi các hoạt động của các người trẻ tuổi hơn.  Trong Tháng Ba 1927, tờ La Tribune Indochinoise chỉ trích các ông Nguyễn An Ninh và Trần Huy Liệu (sau này nổi tiếng trong hàng ngũ Việt Minh) về việc tổ chức một cuộc biểu tình riêng rẽ tại mộ ông Phan Châu Trinh vài ngày trước ngày giỗ của ông, và tố cáo họ lạm dụng danh nghĩa vị anh hung một cách vô ích. 43  Nhưng việc này không tượng trưng cho một sự tan vỡ nghiêm trọng.  Vào lúc này, ông Ninh, kẻ đã không thể thụ án năm trước trọn vẹn [?], đã tổ chức một hội kín mới tại vùng thôn quê Nam Kỳ.  Đảng Cao Vọng Thanh Niên [?] (Hope of Youth Party), thực sự mang tính chất Cộng Sản trong cả các mục tiêu lẫn các kỹ thuật của nó; nếu Đảng Lập Hiến có hay biết về điều này, họ đã không làm điều gì công khai để tiết lộ các hoạt động của nó với Sở Công An Pháp (Sureté). 44  Trong Tháng Tư hay Tháng Năm 1927, Jeune Annam đưa ra một lời kêu gọi sự triệt thoái của Pháp ra khỏi thuộc địa, được tiếp nối bởi cuộc bầu cử một Nghị Viện Việt Nam và sự độc lập trọn vẹn; và trong số các tên tuổi được đưa ra làm hội viên của một Ủy Hội Di Tản (Commission d’Évacuation) có tên của ông Bùi Quang Chiêu.  Không có điều gì khiến ta nghĩ rằng ông hay bất kỳ người nào khác đã cho phép tên tuổi họ được được đề cập đến theo lối này, nhưng khi ông bị thách đố bởi một tờ báo tiếng Pháp bảo thủ đòi ông công bố lập trường của mình, ông Chiêu đã từ chối tự tách mình hoàn toàn ra khỏi lời kêu gọi; ông chỉ nói rằng các thanh niên luôn luôn nóng nảy. 45  Một lần nữa, trong Tháng Bẩy khi ông Phan Văn Trường, giám đốc tờ báo L’Annam, bị buộc tội xúi dục nổi loạn, tờ La Tribune Indochinoise bày tỏ sự ủng hộ cho ông.  Nội vụ kéo dài cho đến Tháng Ba 1928, khi ông Trường bị kết án hai năm tù giam; lập tức ông Bùi Quang Chiêu đề cử ông làm một ứng cử viên vào chức Dân Biểu Nam Kỳ (Député dela Cochinchine) trong tháng kế đó, và thực hiện một chiến dịch vận động nhân danh ông này, và dành cho ông được 175 phiếu, bất kể đến bản án. 46 (Outrey, như thường lệ, được bầu bằng tuyệt đại đa số.)   Các cột báo của tờ La Tribune cũng tiếp tục bênh vực cho các người yếu thế bị mắc kẹt trong các tình trạng nơi mà sự bất công của Pháp xem ra nhiều phần thắng thế.  Trong suốt nữa đầu năm 1928, thí dụ, nó tìm cách biện hộ cho một gia đình nông dân ở tỉnh Bạc Liêu đã từ chối giao nhượng đất đai của mình cho một kẻ cho vay tiền người Hoa cố tình gian lận, với hậu quả là một lính canh (gendarme) Pháp và ba thành viên của gia đình này đã bị giết chết trong một vụ ấu đả. 47
            Tuy nhiên, vào cuối năm 1928, tình hình ngày càng trở nên khó khăn hơn cho phe Lập Hiến né tránh việc tách mình ra khỏi các nhóm cực đoan hơn.  Trong hai hay ba năm sắp tới, họ đã chỉ có thể tồn tại bằng việc tuyên bố sự ôn hòa của họ đến mức độ làm mất mọi ảnh hưởng trên các kẻ cực đoan.  Về phía chính quyền, ông Varenne được kế nhiệm bởi ông Pasquier trong năm 1928 và phe bảo thủ một lần nữa nắm quyền kiểm soát.  Trong mùa thu năm 1928 và nửa đầu năm 1929, họ đã khởi sự đàn áp các tổ chức bí mật nhiều đến mức mà Công An có thể khám phá ra được.  Các hoạt động của ông Nguyễn An Ninh giờ đây không còn là bí mật như ông mong muốn, và trong Tháng Mười ông bị bắt và ít tháng sau đó bị kết án ba năm tù. 48  Kế đó trong Tháng Mười Hai xảy ra vụ giết người tại đường Rue Barbier tại Sàigòn, dẫn đến việc bắt giữ bốn mươi lăm đảng viên cộng sản và các tố chức bí mật khác hoạt động tại Sàigòn, kể cả, một cách tình cờ, ông Phạm văn Đồng là kẻ đã sẵn giữ một vai trò ít nhiều quan trọng trong Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (Revolutionary Youth Association).  Họ bị giam giữ trong tù cho đến phiên xử trong Tháng Bảy 1930, và phần lớn trong họ vẫn còn bị tù trong một thời hạn khá lâu sau vụ đó. 49  Báo chí cũng bị canh chừng cẩn mật bởi Sở Công An, và một số ký giả đã bị bắt giữ và bị phạt: thí dụ, Dương Văn Lợi [?], nguyên trợ bút tờ La Tribune Indigène và giờ đây một biên tập viên của tờ L’Écho Annamite, bị phạt bởi một tòa án Sàigòn hôm 1 Tháng Sáu, 1929; và hai tuần sau đó cảnh sát đã bắt giữ ông Cao Hải Để [hay Đệ?], biên tập của một tờ báo bằng tiếng Pháp, L’Ère Nouvelle50  Tuy thế, các ký giả lớp trẻ hơn đã trở nên can đảm hơn, nổi bật là ông Diệp Văn Kỳ, người thành lập tờ báo Việt ngữ mang tên Thần Chung vào năm 1929, lại chỉ thấy nó bị đóng cửa vào Tháng Ba năm sau. 51
            Tuy nhiên thực hiện các cuộc bắt giữ tại Sàigòn thì dễ dàng hơn nhiều so với việc giữ sự kiểm soát các hoạt động bí mật tại các làng xã.  Sự kiện rằng các nhà chức trách thực dân không cách nào thành công trong việc hủy diệt phong trào đối kháng mới tại vùng nông thôn Nam Kỳ trở nên rõ ràng trong những tháng tiếp theo sau Tháng Năm 1930, khi một loạt các cuộc biểu tình và rối loạn xảy ra tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và tại vùng phía bắc Sàigòn.  Khởi thủy, các cuộc biểu tình này nhằm ủng hộ cho một yêu cầu giảm thuế, nhưng với thời gian, chúng trở nên cực đoan.  Các kẻ phe Cộng sản (kẻ đã thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam tại Hồng Kông trong Tháng Hai 1930) đã tuyên nhận công lao về các sự xáo trộn này, mặc dù họ đã không hoàn toàn phụ trách.  Sự bất ổn ở đây ít nghiêm trọng hơn so với Trung Kỳ phía bắc, đặc biệt tại tỉnh Nghệ An; nhưng nó đã đã diễn ra trong một thời gian đáng kể, và phải chờ mãi đến khoảng Tháng Sáu năm 1931, Nam Kỳ mới hoàn toàn yên tĩnh trở lại. 52  Một số kẻ dính líu hiển nhiên nhất bị bắt giữ và gửi ra đảo Côn Sơn (Poulo Condore) hay bị đầy đi xa hơn nữa.  Nếu các sự xáo trộn tự bản thân có thể được so sánh trong một vài khía cạnh với phong trào hội kín năm 1916, hậu quả cũng chúng cũng có thể so sánh như thế, rằng sự tan rã của phong trào đã tạo ra chúng, và một thời kỳ yên tĩnh phát sinh tiếp đó.
            Đối với phe Lập Hiến, họ không có thềm gì nhiều hơn việc nhấn mạnh rằng chính họ không phải là kẻ chịu trách nhiệm; một số trong họ còn đi xa hơn nữa và lập luận rằng chính họ là tầng lớp tư sản, và vì thế là một mục tiêu của Cộng Sản không khác gì chính các người Pháp.  Sự thực có thể phức tạp hơn đôi chút, bởi đường lối chủ trương bởi tờ L’Écho Annamite trong cuộc khủng hoảng xem ra làm liên tưởng rằng một số người trong phe Lập Hiến đã ủng hộ các cuộc biểu tình ban đầu hồi Tháng Năm và Tháng Sáu, năm 1930 và cho các đòi hỏi giảm thuế của nông dân tiếp theo sau một trận bão ở miền Tây Nam Kỳ, và rằng họ chỉ trở nên lo lắng khi các kẻ cực đoan trong số các người biểu tình cương quyết đòi tiến xa hơn. 53  Nhưng ngay dù trong trường hợp này, hiệu quả của các sự rối loạn nói chung chứng tỏ rằng Cộng sản và các kẻ cực đoan khác đã có một ảnh hưởng ở nông thôn lớn hơn nhiều, so với phe Lập Hiến, và cùng một lúc, khiến cho bất kỳ một sự liên minh thực sự nào giữa hai nhóm trở nên điều bất khả trong tương lai.  Phe Lập Hiến kể từ đó bị gạt bỏ bởi nhiều người dân Nam Kỳ như là thân Pháp.
            Tuy nhiên, sẽ là điều sai lầm để giả định rằng phe Lập Hiến và phe Cộng Sản là hai nhóm duy nhất tranh dành một vị thế sức mạnh tại Nam Kỳ vào lúc này.  Một thành tố thứ ba trong tình hình là liên hiệp các giáo phái được kết hợp lại để thành lập ra đạo Cao Đài. 54  Đạo này đã được mở màn tại một ngôi thánh thất thuộc tỉnh Tây Ninh hồi Tháng Mười 1926, và vào cuối năm đó, nó đã có khoảng hai mươi “thánh thất” (oratories) tại tám tỉnh.  Vị giáo chủ thực thụ của nó, ông Lê Văn Trung (1875-1934), gần như đồng thời với ông Bùi Quang Chiêu, và là một bạn đồng song tại Trường Collège Chasseloup-Laubat; ông đã từng là một hội viên của Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial), và sau này, đại biểu của Nam Kỳ trong một hội đồng (được chỉ định) để cố vấn Toàn Quyền tại Hà Nội, một chức vụ mà ông ta đã xin từ chức vào năm 1925. 55  Nhưng đã có các nhân vật trẻ hơn đứng phía sau, nổi bật là ông Phạm Công Tắc (chết năm 1958) người có các đường dây liên lạc với ông hoàng lưu vong Cường Để hãy còn sống tại Nhật Bản, và nhánh ở Tây Ninh của phong trào [có lập trường] thân Nhật Bản một cách mạnh mẽ kể từ khoảng 1937.  Phong trào trong thực tế cực kỳ phân hóa, điều đó không có gì gây ngạc nhiều bởi nó thực sự là một liên hiệp các giáo phái.  Rất có thể là ngay vào năm 1930, một số trong các tín đồ của nó đã cộng tác với Cộng Sản, vào lúc khi mà ông Lê Văn Trung hô hào các đệ tử của ông đến định cư tại Tây Ninh hầu né tránh sự ngược đãi bởi Cộng Sản.  Các tín đồ Cao Đài khác là các người ủng hộ Đảng Lập Hiến: thí dụ, Lê Kim Ty [?] đã là một trong những người trong danh sách các ứng củ viên của tờ báo Tribune ra tranh chức trong Hội Đồng Thành Phố Sàigòn năm 1929; và ông Trần Quang Nghiêm, người mà chúng ta đã hay biết đến như một phó chủ tịch của cuộc tẩy chay chống Trung Hoa năm 1919. 56  Không có điều nào làm người ta nghĩ rằng chính ông Bùi Quang Chieu có bao giờ là một tín đồ; nhưng ông Nguyễn Phan Long, kẻ đã phủ nhận rằng ông là một kẻ theo đạo Cao Đài năm 1930, đã đóng giữ một vai trò tích cực tại một bộ phận của phong trào vào khoảng 1937. 57
            Ngay dù có một số sự trùng hợp trong danh sách đoàn viên giữa phe Lập Hiến và đạo Cao Đài, nhóm sau này tượng trưng cho một kỹ thuật chính trị hoàn tòan khác biệt với chủ trương lập hiến.  Họ đã không nhất thiết mong muốn sử dụng đến bạo lực, cũng như họ không nhất thiết chống đối một hệ thống chính quyền theo hiến định nếu Việt Nam trở thành độc lập.  Nhưng chính họ chấp nhận kỹ thuật của hội kín, trong nhiều khía cạnh là sự liên tục hay phục hồi phong trào của các năm 1913-16.  Sự tương phản giữa phe Cao Đài và phe Lập Hiến biểu lộ, có lẽ rõ hơn bất kỳ điều nào khác, ý nghĩa chân thực của nhóm kể sau: rằng họ cố gắng du nhập vào chính trị Việt Nam một phương pháp chính trị mới, phát sinh từ sự giáo dục của Pháp nơi họ.  Họ đã làm như thế trong khuôn khổ của một quyền công dân chật hẹp và của các các cơ hội giáo dục hạn chế đến mức tất nhiên phương pháp của họ chỉ có thể được tự thiết định tại Sàigòn và có lẽ các thị trấn ở địa phương.  Tại các làng xã, phương pháp của họ mới chỉ có ý nghĩa nhỏ nhoi, và vì thế vùng nông thôn bị bỏ ngỏ cho các hội kín, bất luận là phe Cao Đài hay Cộng Sản.  Khoảng cách giữa sự ôn hòa của phe Lập Hiến và chủ trương cực đoan của các nhóm khác rất thường có khuynh hướng trùng hợp với khoảng cách giữa các thành phố và nông thôn.  Không may cho phe Lập Hiến, Việt Nam là một xứ sở nơi mà số phận chính trị nói chung được quyết định tại các làng xã, hơn là tại các thị trấn.  Phe Lập Hiến, bất kể một số sự khác biệt nội bộ không tránh khỏi trong một tình thế khi mà sự việc không đi theo đường hướng của họ, vẫn còn có khả năng dành thắng các ghế đại diện trong Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) như các cuộc bầu cử năm 1930 cho thấy.  Nhưng sự việc không kéo dài cho đủ lâu.  Một cơ may cho việc phát triển của Nam Kỳ một hệ thống Nghị Viện cùng loại tự phát như đã xảy ra tại Ấn Độ thuộc Anh, tùy thuộc vào việc các làng xã được hấp thụ vào trong một hệ thống hiến định trong suốt các thập niên 1920 và 1930.  Sự cải cách năm 1922 tượng trưng cho một bước tiến theo chiều hướng đó, nhưng nó đã không được tiếp nối.  Khi người Pháp sau rốt rời bỏ thuộc địa, họ đã không để lại đàng sau họ bất kỳ căn bản nào cho nền dân chủ ở thôn quê, và sự bầu cử các thành viên hội đồng làng xã đã không thay thế cho một truyền thống để tuyển chọn các đại diện tham dự tại Sàigòn.  Có lẽ trong năm 1931, khi các sự xáo trộn tại vùng nông thôn đã lắng xuống và nhiều người gây ra các sự xáo trộn đã nằm trong tù, vẫn còn có một khả tính cho chính quyền thuộc địa để cho phép các sự cải cách diễn ra và như thế giúp cho sự phát triển hiến định theo các đường hướng tương tự như chiều hướng tại Ấn Độ thuộc Anh trở nên khả dĩ.  Nhưng đã không có điều gì được thực hiện.
            Sự so sánh với Ấn Độ thuộc Anh không phải là quá vô lý khi các biến cố tại Việt Nam từ năm 1945 có thể dẫn tới một giả thuyết; đó là sự ức đóan mà chính phe Lập Hiến đưa ra, bởi một trong các nguồn khởi hứng chính của họ trong suốt thập niên 1920 là hoạt động của ông Gandhi.  Trong năm 1929, các ông Bùi Quang Chiêu và Dương Văn Giáo đã đi sang Calcutta để dự Quốc Dân Đại Hội [National Congress, thường hay được dịch để chỉ Đảng Quốc Đại của các người phe ông Gandhi, chú của người dịch].  Họ đã nhân cơ hội đến thăm đại học của Tagore tại Santiniketan, mặc dù họ không gặp gỡ với chính ông Tagore cho mãi một năm sau đó khi họ thuyết phục ông này ghé thăm Sàigòn một cách ngắn ngủi trong đường về lại quê hương từ Nhật Bản. 58  Ông Chiêu đã viết một loạt bài trên tờ La Tribune Indochinoise cả ngợi cả ông Gandhi lẫn các chính sách của Anh tại Ấn Độ, đã lôi kéo ngay sự chỉ trích từ ông Babut của tờ Révue Franco-Annamite rằng ông Gandhi đã lỗi thời và rằng sẽ là một thời gian lâu dài trước khi ông Bùi Quang Chiêu có thể dạo quanh Đông Dương bằng đôi chân trần. 59  Hàm ý rằng nhà lãnh đạo phe Lập Hiến tự mình đã Tây phương hóa và tiến bộ hơn nhiều so với Gandhi thì hợp lý.  Tuy thế, vào năm 1930, ông Chiêu có lẽ tìm kiếm một sự kết hợp của truyền thống Đông Phương với tính hiện đại Tây Phương đến một mức độ xa hơn trong trường hợp năm 1917.  Bản thân ông Gandhi, khá thú vị, vào thời điểm này đã có một thái độ hoàn toàn khác biệt với Anh Quốc so với thái độ đã dẫn dắt ông tới việc tổ chức một đơn vị cứu thương tại Âu Châu năm 1914 và chống đối bất kỳ phong trào đòi tự trị nội bộ cho đến khi chiến tranh qua đi.
            Một yếu tố trong quan điểm thay đổi của ông Chiêu chắc chắn là sự thất bại của nhiều toàn quyền Pháp liên tiếp trong việc đáp ứng các đòi hỏi của ông.  Một yếu tố khác có thể là sự lưu trú lâu dài của ông tại chính nước Pháp, từ 1932 đến 1941, như là đại biểu của Đông Dương tại Thượng Hội Đồng Pháp Quốc Hải Ngoại (Conseil Supérieur de la France d’Outre-Mer).  Vào lúc ông quay về nước, ngay trước khi có sự chiếm đóng của Nhật Bản, phe Lập Hiến từ lâu đã không còn chế ngự khung cảnh chính trị tại Sàigòn.  Sư khởi xướng đã được truyền lại cho các người trẻ hơn, và ngay trong Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) ba người phe Trotsky đã đánh bại rõ rệt các đối thủ phe Lập Hiến của họ trong các cuộc bầu cử năm 1939, chỉ bị bắt giữ ít tháng sau đó khi các nhà chức trách Pháp đàn áp mọi phe Cộng Sản. 60  Trong năm 1942, tờ La Tribune Indochinoise, cùng với các tờ báo khác không thể chấp nhận được đối với người Nhật, đã bị đóng cửa.  Các số báo cuối cùng của nó phản ảnh rất rõ khuôn mẫu thay đổi trong tư tưởng của ông Bùi Quang Chiêu thuộc thập niên trước đó.  Trong Tháng Bẩy ông có viết về cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và các cường quốc [da trắng] Anglo-Saxon: 61
C’est la consequence logique d’un antagonism irreductible òu, à des causes morales, viennent s’ajouter celles d’ordre économique quasiment insoluble.  (Tạm dịch: Đó là kết quả hợp lý của một cuộc đối đầu không thể tránh được khởi  từ những nguyên nhân về tinh thần cộng thêm vào đó là những nguyên nhân về kinh tế hầu như vô phương giải quyết.) *
            Và trong Tháng Chín ông đã thảo luận nghiêng về khuynh hướng tiến đến việc học chữ Hán và nghiên cứu về lịch sử Việt Nam: “nous avons trop negligee notre proper pays: chúng ta đã quá lãng quên đất nước của chính chúng ta”. 62  Liệu ông, ở tuổi bẩy mươi, sau hết đã đi đến việc hối tiếc về lòng tin của ông nơi nước Pháp mà ông đã du hành với quá nhiều nhiệt tình nửa thế kỷ trước đây và là nước có các giá trị mà ông đã ôm ấp và cố gắng thực thi hay không?  Có lẽ là như thế; nhưng bị kịch của ông vẫn chưa chấm dứt.  Với ông Tạ Thu Thâu, ông có thể tìm thấy một sự tiến gần lại với nhau, nhưng với Việt Minh sẽ không có gì hết.  Trong Tháng Chín 1945, khi ủy ban lâm thời Việt Minh bị bắt buộc bởi hành động của Anh-Pháp phải từ bỏ Sàigòn, ông Chiêu đã bị dẫn ra khỏi nhà của ông tại Phú Nhuận, và bị hành quyết – một số phận mà ông đã chia sẻ cùng với ông Tạ Thu Thâu cũng như các nhân vật thân Nhật Bản như các ông Hồ Văn Ngà và Phạm Quỳnh. 63  Trong năm 1945, chủ trương Lập Hiến không còn hiện hữu, vào thời điểm mà nó là một giải pháp thực tiễn thay cho bạo lực của chiến tranh.
***
Sự kiện rằng chính người Việt Nam đã phải hoàn toàn quên mất vai trò của phe Lập Hiến có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, bởi trong các tình hưống đổi thay của các năm sau năm 1945, rất khó khăn để hồi tưởng các thực thể chính trị của thập niên 1920 và rất dễ để loại bỏ như là các chính sách và thái độ thân Pháp của các nhân vật đã xem quyền lực của Pháp là chuyện đương nhiên và chỉ tìm cách thay đổi các chi tiết của tình trạng.  Với ngoại lệ của một số người Nam Kỳ cộng tác với người Pháp tại Quốc Gia Tự Trị (Autonomous State) năm 1946-49 và Quốc Gia Liên Kết (Associated State) năm 1949-54 (một người trong họ là ông Nguyễn Phan Long, Thủ Tướng trong ít tháng vào năm 1950), không người nào trong các nhân vật hàng đầu trong sinh hoạt chính trị Việt Nam từ năm 1945 lại có nợ nần bất kỳ sự quan hệ nào hay có sự ngưỡng mộ đối với Đảng Lập Hiến.  Tuy nhiên, sự lãng quên phong trào của họ bởi các nhà nghiên cứu Tây Phương, vào một lúc khi mà các tài nguyên Hoa Kỳ khổng lồ đang được dành cho sự thiết lập và bảo vệ một nền dân chủ hiến định tại Nam Việt Nam lại càng đáng lưu ý hơn. Hội Đồng Thuộc Đia Nam Kỳ là định chế gần nhất mà Đông Dương thuộc Pháp đã có cho một định chế dân chủ theo ý nghĩa của Tây Phương, và Đảng Lập Hiến là nhóm duy nhất với bất kỳ sự quan tâm thực sự nào đến việc phát triển nó thành một quốc hội có tính chất đại diện chân thực với quyền hành mang lại một sự canh tân hóa dần dần xứ sở.  Nếu không còn điều gì khác về Đảng này còn lôi cuốn bất kỳ sự chú tâm nào đối với các học giả Hoa Kỳ, ít nhất họ có thể điều tra về các nguyên do gây ra sự thất bại của nó./-       
_____
* Người dịch xin cám ơn bạn Phạm Đình Luân đã giúp dịch hộ câu tiếng Pháp mà tác giả đã không dịch sang tiếng Anh trong nguyên bản.
CHÚ THÍCH

1. Một số sự sưu tầm cho bài viết này được thực hiện trong một cuộc thăm viếng Sàigòn dưới sự bảo trợ của dự án London-Cornell Nghiên Cứu Về Đông và Đông Nam Á, cùng được tài trợ bởi Tổ Hợp. Carnegie Corporation tại New York và Hiệp Hội Nuffield Foundation
2. G. Coulet, Les Sociétés Secrètes en Terre d’Annam, Saigon, 1926, phân tích các biến cố tại Nam Kỳ thời kỳ 1913-1916 với một số chi tiết; về âm mưu tại Huế, xem Courrier Saigonnais, 17 Tháng Năm và 5 Tháng Sáu 1916
3. Lê Thành Khôi, Le Việt-Nam, Histoire et Civilisation, Paris, 1955, trang 390.
4. Ông Khai vẫn còn sống tại Sàigòn và tôi vẫn còn may mắn để gặp ông ở đó trong tháng Chín, 1967; tin tức của tôi về hoạt động của ông được dựa một phần trên cuộc đàm thoại của chúng tôi khi đó.
5. La Cochinchine Libérale, 6 July 1915; chủ biên mạnh mẽ tán thành sự tiến hành.
6. Tôi mắc nợ nhiều tin tức liên quan đến cuộc đời của ông Bùi Quang Chiêu nơi các người con gái của ông tại Sàigòn, những người đã tử tế để dành nhìều thời giờ nói chuyện với tôi về sự nghiệp của ông.  Tuy nhiên, trong bài viết theo đây, tôi đã cố gắng đến mức tối đa để ghi nhận mọi biến cố.
7. Courrier Saigonnais, 25 February 1913.
8. L’Avenir du Tonkin, 22 August 1906.  Hội có 110 hội viên.
9. La Tribune Indigène, 25 April và 27 June 1918.
10. Một phần của bức thư được in trong sách của Dương Đình Khuê, Les Chefs d’Oeuvre de la Litérature Vietnamienne, Saigon, 1966, các trang 351-3.
11. La Tribune Indigène, 24 Septembre 1917.
12. La Tribune Indigène, 21 và 28 January 1918.  Một cựu viên chức chính quyền, ông tham gia Hội Đồng Thuộc Địa từ năm 1904, và sẽ cần được phân biệt với người trùng tên được nói tới ở một đoạn dưới đây.
13. Khôi, sách đã dẫn, trang 403.
14. La Tribune Indigène, 28 August và 4 September 1919.
15. La Tribune Indigène, 7 October và 4 November 1919.
16. La Tribune Indigène, 18, 27 November và 2  December 1919.
17. La Tribune Indigène,  May 1919, rải rác.
18. La Tribune Indigène, 17, 24 February 1921; Lê Quang Trinh được bầu làm chủ tịch.
19. Rapport du Gouverneur de la Cochinchine, 4e trimester 1922, Văn Khố Quốc Gia, Sàigòn: S. L. 366.
20. La Tribune Indigène, 17 October 1922.
21, Rapports, v.v…, như chú thích số 19 ở trên; 1er trimester 1919 và 4e trimester 1922.
22. Georges Garros, Forceries Humaines, l’Indochine litigieuse, esquisse d’une entente Franco -Annamite, Paris, 1926, Documents annexes.
23. La Tribune Indigène, September 1923.
24. La Tribune Indigène, 31 August và 7 September 1927.
25. Walter G. Langlois, André Malraux, the Indochina Adventure, London, 1966, các trang 93-5, v.v…
26. La Tribune Indigène, 13, 20 November và 1 December 1923; cũng tham khảo, 22 January 1924.  Tác giả I. M. Sacks nói rằng phe chống đối quy ước đã thắng lợi, nhưng tôi không tìm thấy tài liệu nào về nó đã được rút ra; nguồn tin của ông về việc này là tờ báo La Lutte, số ra ngày 1 November 1934, mười năm sau biến cố; F. N. Trager, biên tập, Marxism in Southeast Asia, Stanford, 1960, trang 113.
27. Nguyễn An Ninh, La France en Indochine, Paris, 1925, trang 17.
28. La Tribune Indigène, 11-13 December 1923; 18 March 1924.
29. Muốn có bài viết về công việc ban đầu của ông, xem L’Avenir du Tonkin, 5 May 1926.  Ông Ninh rõ ràng đã ở Pháp trong thời khoảng 1921-3, nhưng điều đáng ngờ là liệu ông đã rời khỏi đó với một chứng chỉ nào hay không.
30. Trong ấn phẩm trích dẫn ở chú thích số 27 ghi trên.
31. La Tribune Indigène, 26 June 1923.
32. La Tribune Indigène, 3 January 1925.
33. La Tribune Indigène, 31 January 1925.
34. Câu chuyện về tờ báo này, và về các hoạt động khác của Malraux tại Đông Dương, đã được thuật lại bởi W. G. Langlois trong tác phẩm được trưng dẫn ở trên, chú thích số 25.
35. Langlois, sách đã dẫn, trang 178.
36. Muốn có một sự tường thuật về phiên tòa, xem L’Avenir du Tonkin, 23-25 November 1925; tất cả các nguồn tài liệu sau này đều nói rằng ông Châu bị kết án tử hình, nhưng sự việc này không phải như thế.
37. Và được in lại trong tác phẩm của G. Garros, sách đã dẫn, chú thích số 22 bên trên.
38. Báo cáo của Lãnh Sự Anh Quốc tại Sàigòn, F. G. Gorton, April 1926.
39. L’Avenir du Tonkin, 5 May 1926.
40. La Tribune Indigène, 10 November 1926.
41. Gouvernement-Général de l’Indochine, Contribution à l’Histoire des Mouvements Politiques de l’Indochine Franҫaise, I, Hanoi, 1933, trang 17.  Đảng mới không được cấp cho sự thừa nhận pháp lý bởi các nhà chức trách.
42. Ph. Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris, 1952, các trang 63-4.
43. Tribune Indochinoise, 14 March và 4 April 1927.
44. Contribution, v.v… (như chú thích số 41), I, trang 44.
45. Tribune Indochinoise, 27 May 1927; La Presse Indochinoise, 5, 12 June 1927.
46. Tribune Indochinoise, 25 June và 28 October 1927; 28 March và 24 April 1928.  Cũng bị kết án tù trong vụ này là ông Nguyễn Khánh Toàn, người đã sống một thời gian tại Moscow trong thập niên 1930, và sau này trở thành Thứ Trưởng Giáo Dục tại Hà Nội.
47. Tribune Indochinoise, 30 April – 11 May và 20 June 1928.
48. Vào ngày 8 May 1929, Tribune Indochinoise, 7 February 1930, điểm lại các biến cố của năm trước.
49. Tribune Indochinoise, 16 -18 July 1930.
50. Như chú thích số 48.
51. Écho Annamite, 25 March 1930.
52. Một danh sách về các sự xáo trộn được gồm trong Contribution, v.v…, IV, từ trang 124 trở về sau; một sự tường thuật ngắn các biến cố của các năm 1930-1 sẽ được tìm thấy trong tác phẩm của R. B. Smith, Viet-Nam and the West, London, 1968, các trang 104-8.
53.  Tham khảo, Trả lời của ông Nguyễn Tấn Được trước một sự công kích vào phe Lập Hiến của La Dépêche d’Indochine, trên tờ Écho Annamite, 7 June 1930.
54. Muốn có một sự tóm lược về tôn giáo, xem Smith, sách đã dẫn, các trang 71-6.  Các chi tiết hơn nữa sẽ được tìm thấy ttong Contribution, v.v…, VII, phần hoàn toàn dành riêng cho đạo Cao Đài.
55. Thần Chung (nhật báo ở Sàigòn), 14 và 21 March 1966.  Khác với ông Chiêu, ông Trung đã không theo học tại Pháp; không có bằng cớ nào cho thấy rằng ông có tích cực hoạt động bao giờ trong Đảng Lập Hiến.
56. G. Gordon, History and Philosophy of Caodaism, Saigon, 1950, trang 150; Revue Franco-Annamite, I, July 1929, các trang 9-11; Revue Caodaique, 1950, các trang 93-107.
57. Écho Annamite, 16 January 1930; Lược Sử Đạo Cao ĐàiHistoire Summaire du Caodaisme, Tourane, 1956, trang 20.
58. La Tribune Indochinoise, 29 June 1929; tham khảo, Nguyễn Đăng Thục: Asian Culture and Vietnamese Humanism, Saigon, 1965.
59. Revue Franco-Annamite, I, Hanoi, 1 July 1929, các trang 3-6 và II, 16 July, các trang 1-5.
60. Devillers, sách đã dẫn, trang 69.
61. La Tribune Indochinoise, 13 July 1942.
62. La Tribune Indochinoise, 28 September 1942.
63. Devillers, sách đã dẫn, trang 181.
_____
NguồnR. B. Smith, Bùi Quang Chiêu and the Constitutionalist Party in French Cochinchina, 1917-30, Modern Asian Studies, Cambridge University, London, III, 2 (1969), các trang 131-150

Ngô Bắc dịch
14/12/2009  
    

© gio-o.com 2009









R. B. Smith
School of Oriental and African Studies, University of London
Ngô Bắc dịch

            Điều được biết rất rõ rằng lý thuyết thực dân của Pháp về sự đồng hóa (assimilation), mặc dù nó không bao giờ có thể được thực hiện một cách trọn vẹn trong thực tế, hàm ý sự phát triển tại các thuộc địa của Pháp một giới tinh hoa [élite, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] sẵn sàng chấp nhận cả văn hóa Pháp lẫn một vai trò (phụ thuộc) trong việc điều hành xứ sở.  Tại Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchina), giới tinh hoa này đặc biệt quan trọng do ở các tình huống của cuộc chinh phục, giữa các năm 1860 và 1867, khi phần lớn các quan chức – học giả Việt Nam từng cai trị miền này trước đó, rút lui và từ chối hợp tác với người Âu Châu.  Người Pháp không có lựa chọn nào khác ngoài việc tạo lập ra một giới tinh hoa của riêng họ, và khởi sự đào tạo tầng lớp đó theo các cung cách của Pháp.  Tiến trình này đã được thảo luận chi tiết trong một công trình nghiên cứu gần đây của Tiến Sĩ Milton E. Osborne, khảo sát lịch sử cai trị thực dân tại miền nam Việt Nam cho đến tận năm 1905. 1  Trong bốn thập kỷ đầu tiên của thế kỷ thứ hai mươi, giới tinh hoa này tiếp tục tăng trưởng và phát triển, đến nỗi vào khoảng thập niên 1940, nó đã trở thành một phần tử then chốt trong xã hội Nam Kỳ chừng nào mà sự thống trị của thực dân còn tồn tại.  Mục đích của bài viết này là để khảo sát thành phần và vai trò của giới tinh hoa này vào khoảng cuối thời kỳ trong đó nước Pháp có thể xem sự hiện diện của nó tại Đông Dương là chuyện đương nhiên.
            Một giới tinh hoa có thể được định nghĩa theo nhiều cách.  Một số sẽ lập luận rằng, trong nghĩa chính danh của từ ngữ, không xã hội nào lệ thuộc vào sự đô hộ của ngoại bang lại có thể có một giới tinh hoa, các vị thế trên tột cùng được dành cho chính các nhà cai trị thực dân.  Bất kỳ nhóm nào muốn cộng tác với các người ngoại quốc phải, bởi khi làm như thế, từ bỏ quyền hay khả năng lãnh đạo phần còn lại của xã hội trong một chiều hướng được lựa chọn hoàn toàn bởi chính họ.  Các kẻ khác sẽ nêu ý kiến rằng trong một tình trạng như thế, giới tinh hoa chân chính là giới của các kẻ theo chủ nghĩa dân tộc đứng lãnh đạo các phong trào kháng chiến chống lại sự đô hộ của ngoại bang.  Từ quan điểm này, các nhóm xã hội sẽ được thảo luận tới tại các trang viết này phải tuân theo điều bị xem là tầng lớp gì đó kém hơn một giới tinh hoa [đích thực].  Tuy nhiên, tầm quan trọng của họ trong lịch sử hiện đại của nam Việt Nam không thể nào bị phủ nhận; và thuật ngữ sau hết phải bị xem là ít quan trọng hơn ý nghĩa lịch sự.  Với sự dè dặt sơ khởi đó, điều có thể làm để định nghĩa giới tinh hoa mà chúng ta quan tâm đến theo ba tiêu chuẩn chính yêu kể sau: giáo dục (đặc biệt tại Pháp); chức năng chuyên môn hay hành chính, phát sinh từ sự cộng tác với chính quyền thực dân; và các phần tưởng thưởng về kinh tế, quyền sở hữu tài sản, v.v…  Điều sẽ được khuyến cáo là nên nhìn các tiêu chuẩn này trong khung cảnh của xã hội cổ truyền Việt Nam, chứ không chỉ theo lối quen thuộc đối với các người tìm hiểu về xã hội Tây phương.
            Tại Việt Nam thời tiền Pháp thuộc, giống như tại Trung Hoa thời tiền cách mạng, cùng ba tiêu chuẩn này đã mang tầm quan trọng nền tảng.  Vượt xa hơn khối Tây thời tiền thế kỷ thứ mười chín rất nhiều, sự thăng tiên quan chức trong phạm vi quan trường lệ thuộc vào việc học và trúng tuyển qua một hệ thống khảo thí hơn là chỉ dựa trên sự sở đắc tài sản.  Điều rất thường xảy ra, là sự giàu có phát sinh từ chức quyền hơn là lối đi vòng quanh nào khác.  Hậu quả, đã có một xu hướng mạnh mẽ về phía một gia đình đang lên tìm kiếm giáo dục và chức vụ, chứ không phải đi theo chiều hướng kinh doanh kinh tế sẽ dẫn đến một cách trực tiếp sự gia tăng của cải.  Tài sản trong nhiều trường hợp có khuynh hướng trở nên công cộng, trong phạm vi gia đình hay dòng họ, và ít có phương thức bảo toàn pháp lý để bảo vệ sự giàu có riêng tư chống lại một chế độ quân chủ ghen tỵ.  Khuynh hướng ưa chuộng sự học và chức quyền hơn là hoạt động doanh nghiệp chính vì thế đã ăn sâu tại xã hội Việt Nam trước khi người Pháp đến nơi, và nó đã chỉ bị bỏ lại đàng sau một cách tiệm tiến.  Hậu quả, mặc dù giới tinh hoa cộng tác, do Pháp đào tạo đôi khi được gọi là giai cấp tư sản, các nhân vật lãnh đạo của nó thường không phải là những người đã trổi bật lên xuyên qua các nỗ lực kinh tế độc lập.  Họ là những kẻ nợ sự thành công của mình rất nhiều nơi sự chấp thuận của người Pháp, dành đạt được xuyên qua việc theo học tại các trường học và trường cao đẳng Pháp, hay xuyên qua sự phục vụ trong nền hành chính.  Ngay những người đã thụ tạo sự giàu có không qua chức quyền cũng có khuynh hướng làm như thế xuyên qua các cơ hội tham nhũng hay cho vay tiên hơn là qua sự kinh doanh sản xuất.  Một khuôn mẫu xã hội như thế phù hợp rất đúng với các tham vọng của Pháp nhắm cho thuộc địa của họ, không bao gồm sự phát triển kinh tế độc lập trên một quy mô rộng lớn.  Tóm lại, giới tinh hoa Việt Nam tại Nam Kỳ thuộc Pháp đã lệ thuộc rất nhiều vào người Pháp, có lẽ không tránh khỏi như thế.

II
            Giới tinh hoa do Pháp đào tạo trong thập niên 1940 tại Nam Kỳ vừa đông đảo và vừa đa dạng hơn nhóm nhỏ các người đã hoàn toàn ràng buộc với văn hóa (và quyền lực) của Pháp trong thời khoảng ban đầu của sự thống trị của thực dân.  Tiến sĩ Osborne đề cập bởi danh tính chỉ vào khoảng một tá người Việt Nam nổi tiếng phục vụ người Pháp trong thời kỳ 1860-85; và trong khi họ có thể không bao gồm tất cả những kẻ có bất kỳ kiến thức nào từ giáo dục Pháp vào lúc đó, họ chắc chắn gồm tất cả những kẻ được nhìn nhận bởi người Pháp như một giới tinh hoa thực sự.  Tình trạng của thời điểm đó tương phản rất sâu sắc với tình trạng của phần tư thế kỷ cuối cùng của sự thống trị hoàn toàn bởi người Pháp (1920-45), đã được phản ảnh rõ nét trong một quyển sổ tay tiểu sử được ấn hành năm 1943, có nhan đề Souverains et Notabilités d’Indochine [Các Chủ Nhân và Các Nhân Sĩ Của Đông Dương]. 2  Trong số các cá nhân được bao gồm trong đó 141 người là dân bản xứ của Nam Kỳ thuộc Pháp và họ tượng trưng một trắc diện trung thực số người thuộc giới tinh hoa Việt Nam mà lòng trung thành với Pháp thì (hay được tin là) không cần thắc mắc.  Một sự phân tích nhóm người này sẽ cung cấp cho chúng ta một khởi điểm quý giá trong nỗ lực để tìm hiểu tính chất của thành phần này trong xã hội Nam Kỳ.  Tám người trong số 141 người là phụ nữ, những kẻ sẽ được thảo luận riêng biệt cho đúng cách: chúng ta hãy tập trung trước tiên vào 133 đàn ông.
            Họ thuộc vào một loạt trải rộng về nhóm tuổi, và điều đôi lúc sẽ hữu ích khi phân biệt giữa những người sinh ra ở các thời kỳ khác nhau.  Các con số sau đây cho thấy sự phân bố về tuổi tác:
            Sinh ra trong khoảng 1860-79: 50 người
            Sinh ra trong khoảng 1880-99: 70 người
            Sinh ra từ năm 1900 trở về sau: 13 người
            Nhóm đầu tiên, trên 63 tuổi vào năm 1943, tất cả đều là các người đã về hưu khỏi công việc thường lệ, mặc dù nhiều người trong họ hãy còn phục vụ tại nhiều loại ủy ban hay hội đồng khác nhau.  Dĩ nhiên, họ là đại diện của sự bền  bỉ nhiều y như bất kỳ phẩm chất nào khác; nhiều kẻ cùng thời với họ với các chức nghiệp có tiếng tăm ngang hàng đã chết đi.  Nhóm tuổi trẻ nhất, những người dưới 43 tuổi vào năm 1943, cũng mang nét đặc thù trong đó, nó chỉ bao gồm những kẻ thuộc thế hệ đó đã tự mình nổi bật khi còn trẻ: mười một trong 13 người đã được giáo dục tại Pháp.  Cùng thế hệ bao gồm nhiều người, nếu sự cai trị của Pháp còn tiếp tục lâu hơn, có thể hội đủ điều kiện để được kể vào một quyển sổ tay thuộc loại này ở một thời điểm sau này trong cuộc đời: các viên chức phục vụ trong nền hành chính, thí dụ, thường đã không vươn tới các ngạch trật cao cấp cho đến khi họ ở  độ tuổi năm mươi hay lớn hơn.  Vì thế, trong nhiều khía cạnh, chính nhóm ở giữa có tính chất đại biểu nhất cho giới tinh hoa Nam Kỳ nói chung, và một số nỗ lực cần phải được thực hiện theo chiều hướng nhằm so sánh khuôn mẫu của nhóm này với khuôn mẫu tổng quát.
            Điều sẽ hữu ích để đến gần 133 người đàn ông và 8 người đàn ba này xuyên qua một số khía cạnh khác nhau trong đời sống của họ: đặc biệt, sự giáo dục (và tôn giáo) của họ, chức vụ và nghề nghiệp của họ, và sự giàu có của họ.  Khía cạnh kinh tế phải được để dành sau cùng bởi vì chính ở đó tin tức trong lý lịch ít có tính cách hữu ích nhất.  Dưới mỗi tiêu đề cần sẽ phải đặt sắp đặt tin tức về mẫu khảo sát các thành viên của giới tinh hoa này đối chiếu với căn bản rộng lớn hơn của các  thứ hạng  xã hội tại Nam Kỳ.
          Giáo Dục
Tin tức được cung cấp, hay có thể được suy luận, về sự giáo dục của Pháp trên 109 người trong số 133 đàn ông được nêu tên trong quyển sổ tay.  Ngoài những kẻ mà trường học hay khả năng được xác định, trong số này bao gồm 31 người mà sự giáo dục không được nêu ra một cách cụ thể, nhưng là những người mà nghề nghiệp hàm chứa một số lượng giáo dục tại Pháp – phần lớn các giáo viên hay các viên chức trong các ngành hành chính.  Tin tức được tóm tắt nơi Bảng 1: các con số ở đó liên hệ đến trình độ cao nhất của học vấn đạt được bởi mỗi cá nhân, có nghĩa không kiểm kê nào được lấy về sự theo học, thí dụ, tại trường Trung Học Collège Chasseloup-Laubat, bởi những người sau này sẽ theo học tại Hà Nội hay ở Pháp.  Trong thực tế, có thể phân biệt được ba trình độ tổng quát của thành quả học tập trong Bảng 1, tất cả đều cao hơn trình độ mà người Pháp đã đề cập đến (tại Nam Kỳ) như bậc đệ nhất cấp [premier degré, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch].  Trước tiên, là trình độ đệ nhị cấp [deuxième degré], bao gồm nhiều trường ở Sàigòn và một tại Mỹ Tho.  Quan trọng nhất trong các trình độ là Trường Trung Học Collège Chasseloup-Laubat, được thành lập năm 1874, và được đặt theo tên của cựu bộ trưởng hải quân có tiếng nói thuyết phục cho việc sự giữ lại Sàigòn thuộc Pháp vào năm 1862. 3  Bằng cao đẳng thành chung [diploma supérieur] là điều kiện sơ đẳng cho sự gia nhập vào các ngành hành chính của Nam Kỳ và Phủ Toàn Quyền Đông Dương, và bởi nhiều người được ghi tên trong quyển sổ tay này là các viên chức, điều không gây ngạc nhiên rằng Trường này đã hiện ra một cách trội bật trong Bảng 1.  Nhiều người trong số đó đã theo học tại Hà Nội hay tại Pháp, và cũng có khoảng 31 người đàn ông mà sự giáo dục có thể được suy luận, có lẽ cũng đã theo học ở đó.  Ngoài phần dành cho người Việt Nam, Trường [Chasseloup-Laubat] này cũng là trường học dành cho con trai của các người Pháp tại Đông Dương và một ít trẻ em Việt Nam theo học với tư cách con trai của những người đã mang quốc tịch Pháp.  Vì thế, vào lúc ban đầu của thế kỷ thứ hai mươi, trường này có tầm quan trọng hơn nhiều so với ba trường trung học chính khác tại Sàigòn.  Hai trong các trường này được thành lập là trường tư thục trong các năm khởi đầu: Trường Collège d’Adran (1862) là một trường Công Giáo nhưng nguyên thủy được cấp cho bảy mươi học bổng của chính quyền; và Viện Institut Taberd (1874), nguyên thủy có chủ định dành cho các trẻ con lai [métis, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch]. (Không rõ là ba người trong quyển sổ tay 1943 đã theo học tại đó có thực sự là dòng dõi con lai hay không).  Một trường học thứ tư ở Sàigòn, được thành lập hơi muộn hơn nhưng dần gia tăng tầm quan trọng vào khoảng thập niên 1920 và 1930, là trường Trung Học Lycée Pétrus Ký, đặt theo tên của học giả Việt Nam đầu tiên đã trước tác phong phú bằng tiếng Pháp và bằng tiếng Việt dùng mẫu tự La Mã.
            Một cơ sở ban đầu khác xuất hiện trong Bảng 1 là Trường Trung Học Collège de Mỹ Tho, rõ ràng đã cung cấp một trinh độ giáo dục thấp hơn trường Trung Học Collège Chasseloup-Laubat bởi vì nhiều học sinh đã chuyển từ trường này sang trường kia.  Trong những năm ban sơ của sự thông trị của Pháp, trước khoảng 1900, có thể gia nhập thẳng từ trường trung học Mỹ Tho vào phục vụ ngành hành chính, nhưng về sau, một sự học tập ở đó không thôi không còn được xem như hội đủ điều kiện để khởi sự đi làm.  Điều lưu ý cũng cần phải được nói đến là Trường Sư Phạm Các Giáo Chức (École Normale des Instituteurs) tại Gia Định, ngay sát Sàigòn, được thành lập năm 1895, với mục đích đào tạo các giáo viên tại các trường đệ nhất cấp [premier degré].  Vào khoảng 1920 nó có gần 200 học viên, và một vài dấu hiệu chỉ dẫn về kích thuớc công tác của nó có thể được lượm lặt từ sự kiện rằng khi đó đã có gần 900 trường tiểu học (primary) trên toàn cõi Đông Dương.  Nhưng sự kiện rằng chỉ có ba người trong quyển sổ tay 1943 đã theo học tại Trường Sư Phạm (École Normale) cho thấy nó hiếm khi nào là đường lối dẫn đến tư cách thành viên của lớp thượng tầng tinh hoa cao hơn.  Một số các định chế khác của giáo dục bậc trung học đã lớn mạnh trong thập niên 1890, nổi bật là Trường Cơ Khí Á Châu (École des Mécaniciens Asiatiques); nhưng không có cựu học sinh nào của chúng hiện diện trong quyển sổ tay.  Vì thế, sẽ là điều sai lạc khi giả định rằng 133 người đàn ông xuất hiện ở đó tượng trưng nhiều hơn một thành phần nhỏ dân Nam Kỳ đã tiếp nhận một nền giáo dục Pháp vượt quá trình độ sơ đẳng nhất.  Họ là lớp tinh hoa của giới tinh hoa.
            Một số trong 133 nhân sĩ (notabilités) năm 1943 đã theo học bên ngoài thuộc địa Nam Kỳ: một số tại Pháp, nhưng cũng có một số ở Hà Nội.  Mười ba người trong họ đã nhận được giai đoạn tiến bộ nhất trong học thức của họ tại Hà Nội, và hai người khác đã theo học tại Trường Luật trong thời kỳ đó trước khi trường này được di chuyển ra Hà Nội vào năm 1917 (theo sự thành lập của Viện Đại Học Hà Nội).  Trong mười ba người này, không ai thuộc vào lớp già nhất trong ba thế hệ của chúng ta (các kẻ sinh ra trước năm 1880), và rất ít kẻ thuộc nhóm trẻ nhất bao gồm chính yếu các người trẻ theo học tại Pháp.  Tuy nhiên, điều này không nên được xem như một dấu hiệu của một sự thăng tiến, và sau đó một sự suy giảm trong tầm quan trọng của Hà Nội như một trung tâm giáo dục cho Đông Dương trong thời Pháp thuộc.  Ngược lại, viện đại học ở đó đã mở rộng một cách đáng kể trong suốt các thập niên 1920 và 1930, và vào khoảng 1940, ngày càng trở nên thông thường cho con em của các phụ huynh không học xa hơn trường Chasseloup-Laubat, sẽ được gửi ra Hà Nội.  Tuy  nhiên, sự mở rộng đó diễn ra quá trễ để được phản ảnh nơi quyển sổ tay 1943, nơi chỉ có những kẻ trội bật nhất trong những người sinh ra sau năm 1900 mới hội đủ điều kiện để ghi vào sổ tay.  Các người này đa phần được giáo dục tại Pháp, trong khi các người trẻ tuổi hơn chỉ được học tại Hà Nội có thể sẽ không xuất hiện với sự trội vượt cho mãi đến giai đoạn sau của đời sống, sau năm 1943.  Sự mở rộng các trường và ban giảng huấn tại Hà Nội, ngay dù các tiêu chuẩn của chúng thấp hơn các tiêu chuẩn của các trường đại học Pháp, phản ảnh một sự gia tăng dần dần trong trình độ giáo dục được yêu cầu bởi các viên chức nhiều ước vọng sau năm 1917.
Bảng 1
Căn Bản Giáo Dục Của 109 Thành Viên Giới Tinh Hoa Nam Kỳ năm 1943

Nơi Học Tập, v.v…                                                     Cả Nhóm         Các Người Sinh Trong Khoảng
                                                                                                                        1880-99
Pháp v.v…                                                                   27                                13
Trường Luật (Sàigòn, sau ở Hà Nội)                              8                                  6
Trường Y Khoa, Hà Nội                                                3                                  3
Hà Nội: các trường khác                                                4                                  4
Trường Chasseloup-Laubat, Sàigòn                               19                                11
Trường Sư Phạm, Gia Định                                            3                                  3
Học Viện Taberd, Sàigòn                                               3                                  3
Trường Adran                                                                1                                ----
Trường Mỹ Tho                                                             2                                ----
Các trường xác định khác                                              2                                  1
Trường không được xác định                                         6                                  2
Chức nghiệp hàm ý một vài sự học tập ở Pháp               31                                15
______________________________________________________________________________________________________________________
Tổng Cộng                                                                   109                              61
            Trình độ tổng quát của giáo dục Pháp trong giới tinh hoa Việt Nam dần dần gia tăng trong thời kỳ thuộc địa cũng được phản ảnh trong số người theo học các trường đại học tại Pháp.  Trong số 27 người trong Bảng 1 nằm vào loại này, mười một người thuộc vào nhóm tuổi trê nhất.  Chỉ có ba người thuộc nhóm tuổi già nhất.  Trong số ba người kể sau này, hai người là con trai của các người theo Công Giáo hàng đầu đã ủng hộ Pháp từ lúc khởi đầu, tức Lê Phát Anh và Đỗ Hữu Try [?]; một người khác là Bùi Quang Chiêu [Chiểu hay Chiếu?], kẻ mà người cha đã chống đối cuộc chinh phục của người Pháp nhưng đã được tuyển chọn bởi chính quyền thực dân để đi học nước ngoài.  Ba người này không phải là những người duy nhất thuộc thế hệ họ theo học ở Pháp; vào năm 1943, họ đã là những người lớn tuổi, và những kẻ khác thuộc nhóm tuổi họ đã sẵn chết đi.  Nhưng họ là một phần của một nhóm nhỏ hơn và hưởng nhiều đặc ưu hơn các đối tác của họ thuộc thế hệ sinh ra sau năm 1900.
            Tiến Sĩ Osborne ghi nhận đã có chín mươi người Việt theo học tại Pháp ngay từ năm 1870, nhưng các người này xem ra chủ yếu là các người Công Giáo theo học các trường trung học; ít có kẻ nào có khả năng theo học các trường đại học.  Vào năm 1900 có lẽ ít thông thường hơn cho các thiếu niên đi học tại Pháp, khi mà phẩm chất của các trường tại Sàigòn được cải tiến; nhưng số các sinh viên đại học đã gia tăng, và hầu như tất cả 27 người trong Bảng 1 được biết đã nhận được cấp bằng đại học.  Vào khoảng thập niên 1920 và 1930, trong thực tế, một số người Việt Nam đã là tác giả của các luận án tiến sĩ.  Về ngành theo học, được nêu cụ thể với mọi người trừ ba trường hợp, điều đáng chú ý là trong 27 người bao gồm một một khoa học gia, kỹ sư, nhà nông học, sáu bác sĩ y khoa và nha sĩ, và bảy người tốt nghiệp về luật hay thương mại.  Không có ai là sinh viên ở văn khoa, mặc dù chúng ta hay biết rằng một số người Việt Nam có theo học tại Đại Học Sorbonne trong thập niên 1920, nổi bật là hai người theo xã hội chủ nghĩa, Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm: các nhân vật nguy hiểm về chính trị như thế chắc khó khăn để tìm lối bước vào một sổ tay như loại sổ tay năm 1943, và chúng ta phải tiếp tục ghi nhớ trong đầu sự giới hạn này của tư liệu gốc rễ này.  Vào thập niên 1920, giáo dục Pháp không cách gì đồng nghĩa với lòng trung thành với Pháp.
            Một trong những kết luận đáng lưu ý nhất xuất hiện từ sự phân tích ngắn ngủi này về căn bản giáo dục của các nhân sĩ năm 1943 là tầm không quan trọng tương đối của Giáo Hội Công Giáo trong sự học tập của họ.  Ở trình độ trung học, rất đông là thành quả của trường Chasseloup-Laubat hơn là của các học viện tôn giáo được đặt tên theo [các giáo sĩ] Adran và Taberd; và chỉ có một người duy nhất trong số 109 người trong Bảng 1 (được ghi thuộc “các loại học viện xác định khác”) là đã theo học tại một chủng viện.  Trong số người theo học tại Pháp cũng thế, chỉ có ba hay bốn người đi theo con đường Công Giáo đến Marseille: phần lớn được học tập tại các trường hoàn toàn thế tục.  Bất kể vai trò của Giáo Hội ra sao trong những năm ban sơ, sẽ là một sự lầm lẫn để giả định rằng ảnh hưởng văn hóa Pháp hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo trong hế kỷ thứ hai mươi, it nhất tại Nam Kỳ.  Tại Trung Kỳ (An Nam) và Bắc Kỳ (Tongking) vai trò của Giáo Hội có thể lớn hơn.  Điều xảy ra là rất có thể, tại các khu vực này, các người Công Giáo đã sẵn sàng hơn các kẻ khác để chấp nhận lối học của Pháp hơn là cách học cổ truyền, ít nhất là trước thập niên 1920.  Người ta phải cẩn trọng chớ áp dụng một cách quá dễ dãi các kết quả của cuộc nghiên cứu này về Nam Kỳ cho Việt Nam, như một toàn thể.
          Chức Vụ và Nghê Nghiệp. 
Quyển sổ tay 1943 mang lại tin tức khá đầy đủ về chức nghiệp, và nó cho thấy 106 người trong tổng số 133 người đàn ông Nam Kỳ đã, hay từng, giữ các chức vụ chính thức hay có nghề nghiệp chuyên môn.  Trong số những người có sự huấn luyện chuyên môn, phần lớn được tuyển dụng trong một số chức vụ (thường, nhưng không phải luôn luôn, trong công việc chính phủ), và không hơn nửa tá thuộc nghề chuyên môn hoàn toàn độc lập với bất kỳ tổ chức nào.  Các con số này xem ra hậu thuẫn (không nhất thiết chứng minh, tự bản thân chúng) cho ấn tượng rằng người Việt Nam đã nhìn sự học tập như một đường lối dẫn đến chức vụ, và hiếm bao giờ như một phương cách để kinh doanh độc lập, trong doanh nghiệp hay bất kỳ lãnh vực nào khác.
            Tin tức về 106 người này được tóm tắt nơi Bảng 2; một lần nữa, các con số tổng quát được so sánh với các con số dành cho nhóm tuổi ở giữa.  Có thể chia họ thành bốn loại nghề nghiệp chính.
Bảng 2
Các Viên Chức Và Nghề Nghiệp Chuyên Môn Của 106 Người Thuộc Giới Tinh Hoa Nam Kỳ, 1943

Nghề Nghiệp                                                                Cả Nhóm         Các Người Sinh Trong Khoảng
                                                                                                                        1880-99
Các Công Việc Hành Chính Tổng Quát
a. Nam Kỳ và Phủ Toàn Quyền                                   37                                35
b. Các xứ bảo hộ Trung Kỳ - Bắc Kỳ                            5                                ----
Quân Đội                                                                     5                                  3
Dạy Học                                                                      14                                7
Y Khoa                                                                        8                                 7
Dịch Vụ hay Hành Nghề Pháp Lý                                 4                                  2
Nông Học, Kỹ Sư, v.v…                                               6                                 ----
Chánh Tổng                                                                 7                                   2
Tổng Cộng                                                                   106                              56

1. Công việc chính phủ tổng quát. 
Loại này đến nay là loại đông đảo nhất, bao gồm hơn phân nửa của cả nhóm lẫn nhóm tuổi ở giữa.  Phần lớn 62 người liên hệ đã phục vụ, hay có phục vụ, tại chính Nam Kỳ, mặc dù một số được tuyển dụng bởi Phủ Toàn Quyền và trên lý thuyết phải chịu sự bổ nhiệm đến các nơi khác trong Liên Bang Đông Dương.  Tuy nhiên, cả năm người trừ một người thuộc nhóm tuổi lớn nhất, phục vụ cho các chính quyền của các xứ Bảo Hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ.  Một trong những người nổi bật nhất trong họ là ông Trần văn Thông [?] (1875-19?), nguyên quán Biên Hòa, đã gia nhập ngành hành chính Bắc Kỳ năm 1907 và leo lên chức tổng đốc [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] tỉnh Nam Định, với phẩm tước cao cấp hàng đại học sĩ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch].  Một người khác, Ngài Nguyễn Văn Hiên [?] (1877-19?), gia nhập chính quyền Trung Kỳ năm 1894 và sau một số sự bổ nhiệm cấp tỉnh đã lên đến hàng thượng thư phụ trách cung điện trong thời khoảng 1926 đến 1932.  Nhưng đây là các nhân vật ngoại hạng, và trong các thế hệ sau này, đã ít có nhu cầu hay cơ hội hơn cho những người sinh đẻ trong Nam Kỳ đi theo tấm gương của họ.  Đối với phần lớn, công việc chính phủ có nghĩa phục vụ tại Nam Kỳ, nhưng thường (ít nhất ở các chức vụ cao hơn mở ra cho người Việt) tại một tỉnh khác hơn tỉnh nguyên quán của chính mình.
            Một chức nghiệp không phải là không điển hình, của một viên chức được ghi nhận một cách đặc biệt về lòng trung thành của ông ta đối với nước Pháp, đó là hoạn lộ của ông Trần Văn Mang [?], sinh tại Sàigòn năm 1899.  Ông đã theo học, lần lượt, các Trường Mỹ Tho và Chasseloup-Laubat, và đậu bằng Trung Học hay bằng Thành Chung[brevet, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] năm 1917.  Đã gia nhập công việc hành chính tại Phủ Toàn Quyền, không lâu sau đó ông đã được gửi đi học tại Trường Pháp Chính (École de Droit) tại Hà Nội, nơi mà ông đã tốt nghiệp vào năm 1921.  Sau đó ông đã trải qua một số năm tại một nhiệm sở chính thức tại Hà Nội, trước khi quay trở lại một số chức vụ tại Nam Kỳ.  Đã trúng tuyển kỳ thi nhập ngach tri huyện [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], ông đã được bổ làm tri phủ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] trong năm 1928.  Năm 1930 – trong suốt các cuộc biểu tình và gần như nổi loạn tại một số tỉnh Nam Kỳ, ông đã được phái xuống Cao Lãnh với một nhiệm vụ đặc biệt để ổn định khu vực.  Sau cùng trong năm 1936 ông được giao phó loại chức vụ cao cấp nhất mà ông ta có thể kỳ vọng dưới sự cai trị thực dân, làđại biểu [délégué, tiếng Pháp trong nguyên bản, tức chức quận trưởng [?], chú của người dịch] của Ba Tri (thuộc tỉnh Bến Tre); và trong năm 1937 ông lên đến ngạch cao cấp nhất trong công vụ tại Nam Kỳ, ngạch đốc phủ sứ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch].  Ông hãy còn phục vụ trong năm 1943, và đã được tuyên dương với Huy Chương Long Tinh (Order of the Dragon) trong năm 1941. Ông nộp đơn, và đã được chấp thuận, được trở thành công dân Pháp trong năm 1928.  Những người như thế thật thiết yếu đối với sự cai trị của Pháp tại Việt Nam, và – dưới mắt nhìn của người Pháp – quá xứng đáng để được tưởng thưởng vì các sự phục vụ của họ.  Nhưng không kẻ nào được ủy thác cho các trách vụ cao nhất.  Mãi đến năm 1945, sau thời kỳ vô lãnh đạo do Nhật Bản gây ra (Tháng Ba – Tháng Tám, 1945), người Pháp mới thăng chức cho một người Việt Nam vào chức vụ điều hành cấp tỉnh: sự lựa chọn của họ đổ xuống ông Nguyễn Văn Tâm (sinh năm 1895), đã gia nhập vào ngành hành chính năm 1913, trở thành một công dân Pháp năm 1927, và leo lên ngạch đốc phủ sứ năm 1934 sau khi được củ làm đại biểu (délégué) tại Cai Lậy; giờ đây ông được cử làm nhà quản trị hành chánh[administrateur, tiếng Pháp trong nguyên bản, tức chức tỉnh trưởng [?], chú của người dịch] tỉnh Tân An, và sau đó trở thành thủ tướng của Quốc Gia Liên Kết Việt Nam (Associated State of Viet-Nam) (1952-3). 5
            57 người thuộc loại này xuất hiện trong Bảng 2, dĩ nhiên, chỉ là lớp tinh hoa trong ngành hành chính.  Trong các năm 1938-9 có đến 159 viên chức Việt Nam thuộc ngạchcán bộ cao cấp [cadre supérieur, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] phục vụ tại Nam Kỳ, và có vào khoảng một tá người khác – thí dụ các thông dịch viên – được bổ nhiệm vào một vị thế tương tự. 6  Bởi quyển sổ tay 1943 bao gồm nhiều viên chức đã về hưu, khối người có một con số vô định ở bất cứ một thời điểm nào, không mấy chắc rằng 57 người được nêu tên ở đó tương đương nhiều hơn một phần năm hay một phần tư số viên chức và cựu viên chức có ngạch trật cao cấp nhất.  Ngoài ra, có một số lượng lớn hơn rất nhiều các người Việt Nam được tuyển dụng vào các chức vụ thư ký thấp hơn, những kẻ có thể được nói thuộc vào lớp tinh hoa chừng nào họ có một số sự học vấn tại Pháp, nhưng là những kẻ không bao giờ leo lên đến các chức vụ có tầm nổi bật nào.  Vì thế, ở đây một lần nữa, chúng ta đang chỉ nói về một “lớp tinh hoa trong giới tinh hoa” mà thôi.
          2. Phục Vụ Trong Quân Đội. 
Người Việt Nam được tuyển mộ để phục vụ dưới sự lãnh đạo của người Pháp ngay từ những ngày sớm nhất của nền cai trị của thực dân, nhưng chỉ ở các trình độ thấp nhất.  Ngoài các người Việt Nam sau này gia nhập quân đội Pháp, có rất ít cơ hội để leo lên các chức vụ có bất kỳ tầm quan trọng nào trong một binh nghiệp.  Mãi đến năm 1950 người Pháp mới sằn sàng cho phép có một quân đội Việt Nam với các sĩ quan riêng của nó.  Tuy thế, quyển sổ tay 1943 bao gồm 5 người Nam Kỳ theo đuổi binh nghiệp, mặc dù một số người trong họ có thể đã được gồm vào vì các hoạt động sau khi đã về hưu hơn là vì các hoạt động quân sự của họ.  Hai nhân vật quân sự đáng được nêu danh ra.  Thái Văn Chanh [Chánh?], sinh tại tỉnh Cần Thơ năm 1874, gia nhập quân đội Pháp năm 1893 và phục vụ tại Madagascar (1900-5) và tại nước Ivory Coast (Bờ Biển Ngà Voi) (1905-8), sau đó kết thúc binh nghiệp của ông ta sau thời kỳ phục vụ tại Âu Châu từ 1914 đến 1916.  Ông ta trở thành công dân Pháp năm 1896, và được thưởng Chiến Công Bội Tinh(Croix de Guerre) năm 1911 và Huy Chương Danh Dự [Chương Mỹ Bội Tinh?] (Légion d’Honneur) khi về hưu.  Sau khi trở lại Việt Nam, ông ta mua một nhà máy làm muối và một số ruộng đất, và cũng trở thành một Phật tử tích cực, đến nỗi vào năm 1943, ông là Phó Chủ Tịch Hội Nghiên Cứu Phật Học.  Thuộc về một thế hệ trẻ hơn nhiều, ông Nguyễn Văn Xuân (sinh năm 1892) đã là người Việt Nam đầu tiên theo học Trường Bách Khoa (École Polytechnique) (khóa năm 1912).  Ông phục vụ trong quân đội Pháp trong Thế Chiến Thứ Nhất, được gắn huy chương tại Verdun, và leo lên cấp Trung Tá pháo binh, có quốc tịch Pháp trên đường binh nghiệp. Sau Thế Chiến Thứ Nhì, ông trở nên một chính trị gia tích cực, và là thủ tướng, trước tiên của Nam Kỳ và sau đó của Việt Nam, giữa các năm 1947 và 1949.  Trong thực tế, ông đã là người đầu tiên của một loại sĩ quan quân đội Việt Nam mới sắp đảm nhận tầm quan trọng đáng kể trong đời sống chính trị của Nam Việt Nam sau năm 1954.  Nhưng giữa lớp tinh hoa năm 1943, ông ta thực sự là một quân nhân độc nhất.
          3. Công Việc Chuyên Môn. 
Trong các lãnh vực hành chính tổng quát và quân sự, người Pháp không làm gì khác hơn việc tạo lập tại Việt Nam các phiên bản của chính họ cho một điều gì đó đã từng hiện diện tại xã hôi thời tiền Pháp thuộc.  Những người gia nhập vào guồng máy của Pháp, đặc biệt, không làm gì khác hơn việc thay thế nền giáo dục truyền thống của một học giả Khổng Nho bằng một số biện pháp của nền giáo dục tổng quát của Pháp, nói chung thuộc một loại sơ đẳng hơn.  Nhưng người Pháp cũng giới thiệu ý tưởng về kỹ năng chuyên môn, dựa trên giáo dục chuyên biệt hóa trong một số ngành học tập tuyển chọn.  Đến mức độ mà họ cho phép hay khuyến khích người Việt Nam thụ đắc một nền giáo dục thuộc loại đó, chúng cũng có một tác động quan trọng trên cả văn hóa lẫn kỹ thuật của chính quyền quản trị đất nước.  Chúng ta đã sẵn nhận thấy rằng 27 nhân sĩ năm 1943 được học tập tại Pháp, và nhiều người trong đó chuyên môn trong một ngành cá biệt của sự học tập chuyên môn, nổi bật về canh nông, kỹ sư, y khoa, nha khoa, thương mại và luật học.  Một số ít người khác thụ đắc sự huấn luyện chuyên môn hóa thuộc một loại kém tiền tiến hơn tại Hà Nội, đặc biệt trong ngành y khoa.  Hơn nữa, loại giáo dục này trở nên thông thường hơn trong các thập niên 1920 và 1930.  Nhưng chỉ một thiểu số nhỏ bé nhìn nó như dẫn đến một sự hành nghề chuyên môn độc lập, và họ có thể là những người còn có các nguồn lợi tức khác, chẳng hạn như đât đai.  Một nhân vật trội bật trong số các trường hợp ngoại hạng này là Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1945) người đã theo học tại Viện Institut Pasteur ở Paris và đã viết luận án bác sĩ về bệnh phù thủng (beri-beri); nhưng ông là một đại điền chủ cũng như là một bác sĩ y khoa.  Ông bước vào chính trị năm 1926 như một người theo phe Lập Hiến (Constitutionalist), thành lập Đảng Dân Chủ (Democrat Party) năm 1937, và trong năm 1946 đã trở thành người cầm đầu một chính phủ Nam Kỳ “tự trị” do Pháp bảo trợ; nhiệm kỳ của ông kết thúc với sự tự vẫn. 7
            Phần lớn 18 nhà chuyên môn trong Bảng 2 (tạm thời không kể các giáo chức) thuộc vào một số loại công việc ở các định chế, và nhiều người phục vụ chính phủ.  Người lớn tuổi nhất trong họ, và không phải là người ít đặc sắc nhất, là ông Bùi Quang Chiêu (1873-1945), kẻ đã tốt nghiệp từ Viện Canh Nông Quốc Gia (Institut National Agronomique) năm 1897 và đã phục vụ chính phủ từ khi đó cho đến năm 1926 khi ông ta gia nhập Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial) với tư cách lãnh tụ của Đảng Lập Hiến (Constitutionalist Party. 8  Canh nông dần trở nên được ưa thích như một ngành học trong thập niên 1920, và một vài nhân sĩ trẻ tuổi nhất đã hội đủ điều kiện để có mặt trong đó [quyển sổ tay]: thí dụ, Châu Tâm (phán đoán từ danh tính, ông ta người gốc Trung Hoa), người đã đủ khả năng để theo học tại cùng học viện ở Paris năm 1933 và sau đó theo học về kỹ thuật trồng lúa gạo tại Ý Đại Lợi trước khi bước vào Sở Canh Nông tại quê nhà; năm 1939, ông trở thành giám đốc Trường Canh Tác Lúa Gạo (École de Rixculture) ở Cần Thơ.
          4. Dạy Học. 
Một số các người này đã thụ đắc các khả năng chuyên môn hóa, cũng như một số chỉ có một nền giáo dục tổng quát, đã trở nên các giáo chức – cũng là một hoạt động truyền thống cho các học giả tại Việt Nam thời tiền Pháp thuộc.  Giáo chức được xem trọng gần như bằng quan chức-học giả, đặc biệt tại làng của chính người đó.  Sự tăng trưởng của các định chế giáo dục dưới thời cai trị của Pháp đã sẵn được chỉ dẫn, và các trường học này phải được cung cấp nhân viên bằng các người có học đã đạt được một trình độ này hay trình độ kia.  Mười bốn giáo chức trong Bảng 2 rõ ràng tượng trưng khối không gì khác hơn chóp đỉnh của tảng băng.  Hai thí dụ sẽ cho thấy loại giáo chức hội đủ điều kiện ghi vào quyển sổ tay 1943.  Ông Nguyễn Thành Giung, sinh ra tại tỉnh Sa Đéc năm 1894, theo học tại trường Chasseloup-Laubat và sau đó tại Đại Học University of Marseille, đỗ bằng tiến sĩ khoa học (doctorat-ès-sciences) năm 1923.  Năm 1926, ông trở thành giáo sư (professeur) tại Trường Sư Phạm Đào Tạo Các Giáo Chức (École Normal des Instituteurs), và sau đó đảm nhận các chức vụ tại trường Chasseloup-Laubat và trường Lycée Petrus Ký, trước khi trở thành giám đốc trường Collège de Mỹ Tho.  Ông Trần Văn Giang [?], mặt khác, sinh ra gần Tây Ninh trong năm 1894, không theo học nơi nào khác ngoài trường Collège Chasseloup-Laubat (1892-5) và sau đó phục vụ như một thày giảng (instituteur) tại Sàigòn và Tây Ninh, cho đến khi ông trở thành thanh tra các trường học tại Tây Ninh từ 1926 đến 1931.  Ông đã được gồm vào, theo giả thuyết, do công việc hành chính của ông trong tư cách kể sau, và chính nhờ đó mà ông được phong hàm tri phủ danh dự khi về hưu.  Đa số các giáo chức trong quyển sổ tay đã được bổ nhiệm vào các trường nhà nước, nhưng một người không xứng với một sự đề cập quá ngắn ngủi: ông Lương Văn Hau [?] (sinh năm 1897), theo học tại Trường Cao Đẳng Thương Mại (École de Commerce Supérieur) ở Hà Nội, và sau đó dạy học tại nhiều trường thương mại tư thục khác nhau ở Sàigòn, trước khi mở một trường của chính ông trong năm 1930; ông đã kết hợp việc dạy học với công việc một kế toán viên cho nhiều xí nghiệp kinh doanh.  
          5. Các Chánh Tổng (Canton-chiefs). 
Bảy trong số các nhân sĩ năm 1943 đã giữ các chức vụ chính thức thấp hơn là chánh tổng [chef de canton, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch].  Nhưng trong khi các viên chức của các đơn vị lớn hơn trong guồng máy hành chính địa phương được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương từ số nhân viên thường lệ của nó, chánh tổng là một người địa phương được tuyển chọn trong số các cư dân hàng đầu tại các làng thuộc tổng của người đó.  Một chức nghiệp đại diện từ các chánh tổng được ghi trong quyển sổ tay là chức nghiệp của ông Nguyễn Duy Hinh (sinh năm 1874) tại làng Đại Điền [?] (tỉnh Bến Tre).  Ông đã được bổ nhiệm nhiều chức vụ tại xã của ông, leo từ biện lại [? Tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] lên đến xã trưởng (village manager) trong năm 1901, và hương sư [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] (cố vấn về các điều lệ) trong năm 1904.  Ông làm chánh tổng trong hai mươi ba năm (1913-36), và khi hồi hưu, được phong tặng hàm đốc phủ sứ danh dự; trong năm 1942, ông được nhận làm hội viên nhận lãnh Huy Chương Danh Dự (Légion d’Honneur).  Ông nhiều phần sở hữu đất đai, bởi ông xem ra là người có một số tài sản, được ghi nhận do việc làm từ thiện của ông; nhưng không có điều gì trong tiểu sử của ông cho thấy ông đạt được các chức vụ của mình bằng bất kỳ đường lối giáo dục nào.  Về khía cạnh này, ông và sáu chánh tổng khác trong Bảng 2 khác biệt một cách rõ rệt với số người còn lại: họ rất có thể biết tiếng Pháp, nhưng họ không cần phải là kẻ học cao (ngay cả theo các tiêu chuẩn của dân Nam Kỳ).  Các người này không phải là thành phần của lớp thượng tầng tinh hoa, trong ý nghĩa này; và trong thực tế, chỉ một số rất nhỏ trong họ xuất hiện trong quyển sổ tay.  Có hơn hai trăm tổng tại Nam Kỳ, và chỉ có bảy người trong họ được bao gồm: quá ít so với tỷ lệ các viên chức cao cấp hơn được liệt kê.  Sự cộng tác của các người như thế dù thế có tính cách quan trọng sinh tử cho sự cai trị của người Pháp, và vị thế của họ trong xã hội địa phương rất quan trọng.  Có lẽ hay nhất là nhìn họ như tầng lớp cao nhất của một giới tinh hoa loại khác với giới tinh hoa do Pháp đào tạo có cuộc sống tập trung tại Sàigòn và các thị trấn chính.  Song làm như thế có thể gặp phải sự rủi ro của việc tạo ra một sự khác biệt quá lớn lao giữa hai nhóm, bởi đôi khi có các quan hệ gia đình giữa hai nhóm.  Ông Nguyễn Duy Hinh là một trường hợp được nói đến này: một trong các con trai của ông, ông Nguyễn Duy Quan [hay Quân?] theo học tại Pháp, và với bằng cử nhân luật khoa [licence en droit] và bằng tốt nghiệp cao đẳng thương mại [diploma des hautes études commerciales], ông bước vào ngành công vụ chính phủ và nhận được, trong năm 1935, một sự bổ nhiệm quan trọng tại triều đình hoàng gia ở Huế.  Ông Bùi Quang Chiêu cũng là con của một viên chánh tổng và được phong hàm đốc phủ sứ danh dự. 9  Vì thế, về mặt xã hội, người ta không thể xem các chánh tổng như thuộc vào một tầng lớp riêng biệt khỏi giới tinh hoa thành thị do Pháp đào tạo.
          Sự Giàu Có 
Quyển sổ tay 1943 ít hữu dụng hơn nhiều khi đi đến một sự thảo luận về các tình huống kinh tế của các nhân sĩ của nó, và một sự phân tích thấu đáo là điều bất khả.  Người ta có thể nhận thấy rằng 17 trong số 133 người được nói một cách cụ thể là có tài sản về đất đai hay làm việc chính yếu trong sự quản trị điền sản của gia đình, nhưng khó có thể nói rằng những người này là các người duy nhất thu hoạch một phần lợi tức của họ từ đất đai.  Sự nghèo nàn về tin tức kinh tế khiến không thể, một cách không may, đưa ra bất kỳ sự lượng định nào về tầm mức theo đó giáo dục và chức quyền đã mang lại phần thưởng kinh tế.  Tất cả những gì chúng ta có thể làm được là việc ghi nhận một số nhỏ các cá nhân trong quyển sổ tay có hoạt động chính yếu là sự quản trị một điền sản hay một xí nghiệp kinh doanh.  Thí dụ nổi bật nhất là ông Trương Văn Bền, kẻ hẳn phải là một trong những người Việt Nam giàu có nhất trong thời của ông ta; ông nguyên quán ở Chợ Lớn, sinh năm 1883, và được nghĩ là có dòng dõi Trung Hoa.  Ông được trình bày như một “nhà kỹ nghệ” (industriel), là một trong các nhân vật hàng đầu trên bước tiến để phát triển các kỹ nghệ Việt Nam trong thời kỳ khoảng 1918: vào lúc đó ông khởi sự một nhà máy xay lúa và nhà máy chế tạo dầu, và trong năm 1932 ông đã bổ túc vào chúng bằng một nhà máy sản xuất xà bông.  Trong thời khoảng ở giữa, ông là giám đốc Hội Trồng Lúa Gạo ở Tháp Mười (Socíété Rizicole de Tháp Mười), sở hữu 10,000 mẫu tây (hectares) đất, từ năm 1925 đến 1932.  Trong năm 1931, ông được nói là sở hữu 18,000 mẫu đất, nhưng không rõ rằng liệu điền sản là tài sản cá nhân của ông hay chỉ là tài sản của một công ty. 10  Ông không hề giữ một chức vụ hành chính nào, nhưng trong năm 1918, ông được cử vào Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial); và hai năm sau đó ông là một hội viên của Phòng Thương Mại (Chambre de Commerce), nơi ông đã là phó chủ tịch từ năm 1932 đến 1941; từ 1924, ông cũng phục vụ trong ủy ban quản trị hải cảng Sàigòn.  Rất ít các người Việt Nam không phải là quan chức lại có thể thụ hưởng được sự thành công đến thế trong lãnh vực kinh tế.  Tuy nhiên, có một số ít người ghi trong quyển sổ tay đã thừa hưởng thành quả của sự thành công của cha ông họ và là các kẻ có thể sống một cuộc đời nhàn hạ.  Một trong những người đó là ông Jacques Lê Văn Đức, sinh năm 1887 tại tỉnh Mỹ Tho, từ một gia đình Công Giáo.  Cha của ông phục vụ trong ngành hành chính từ năm 1884 cho đến 1919 và đã đóng một vai trò tích cực trong sự trấn áp các hội kín trong phân nửa sau của chức nghiệp của ông; bản thân ông Lê Văn Đức, theo học tại Học Viện Institut Taberd và đại học ở Marseille, có phục vụ trong thời gian ngắn như một phụ tá lục sự [? commis-gréffier] ở Sàigòn trước khi xin nghỉ vào năm 1913 để quản trị các tài sản gia đình.  Từ đó trở đi ông ta được ghi nhận chính yếu về các sự tặng dữ ba ngôi trường mới và các cuộc du lịch của ông sang Âu Châu và Á Châu.  Điều có lẽ gây ngạc nhiên rằng quyển sổ tay 1943 đã không bao gồm nhiều hơn nhóm nhỏ các kẻ thuộc loại như ông ta.  Một sự giải thích khả hữu rằng tại nhiều gia đình, các tài sản được trông coi bởi người con trai trưởng là những kẻ không thiết gì đến việc giáo dục hay chức quyền, nhưng ở lại nhà để sống một cuộc đời hoàn toàn khác biệt với cuộc sống của các người em của họ: một đời sống không mấy khi dẫn họ đến sự nổi bật trong các giới của Sàigòn.  Một cách đáng chú ý, ông Bùi Quang Chiêu là một người con thứ, có người anh lớn hơn, ông Trứ [?], sống tại Mỏ Cày và có vẻ như không thụ nhận một nền giáo dục của Pháp hay bất kỳ loại chức quyền nào.  Ở đây, có lẽ, chúng ta có một phần của sự giải thích tại sao tin tức trong quyển sổ tay lại quá yếu về đề mục tài sản và sự giàu có; đó là một đề mục quá phức tạp để được ghi nhận trong tiểu sử của các cá nhân.
            Điều cũng không dễ dàng để lấp đầy khoảng trống này bằng cách tham chiếu các nguồn tài liệu khác.  Các tài liệu cung ứng hiện nay không đủ giúp làm một cuộc phân tích bao quát sự giàu có và tài sản của giới tinh hoa Nam Kỳ; có lẽ không có tài liệu nào như thế hiện hữu, bởi các điền chủ Việt Nam không có thói quen phô trương chi tiết đời sống kinh doanh của họ, và có thể các nhà chức trách Pháp không có mấy quan tâm để việc tọc mạch quá sâu vào công việc của họ.  Nguồn thống kê duy nhất có bất kỳ sự dính dấp nào đến vấn đề là cuộc thăm dò của tác giả Y. Henry về kinh tế nông nghiệp trong năm 1930. 11  Tại mười bốn tỉnh mà ông khảo sát, ông tìm thấy có đến 244 người đăng ký như là các sở hữu chủ nhiều hơn 500 mẫu ruộng lúa.  Nhưng ông không quan tâm đến họ như các cá nhân, và khi xét đến sự kiện rằng cuộc thăm dò của ông đặt trên các con số quyền sở hữu của các tổng và xã, không thể biết là liệu ông có tránh được sự nguy hiểm của việc đếm trùng một số sở hữu chủ đến hai lần hay không.  Cũng không thể biết đâu là tỷ lệ các sở hữu chủ là người Pháp.  Tuy nhiên, một điều thì rõ rệt: đến nay số lượng lớn nhất của các điền sản hơn 500 mẫu tây tọa lạc tại các tỉnh miền Tây, nổi bật là Rạch Giá, Bạc Liêu, Long Xuyên, và Sa Đéc.  Các tỉnh này là các khu vực được khai hoang trong các thập niên 1920 và 1930, và nhiều phần là một viên chức hay doanh nhân Việt Nam thành công sẽ đầu tư tiền bạc của mình ở đó.  Tuy nhiên, tình trạng thay đổi ở mọi thời, và người ta không thể biết chắc rằng khuôn mẫu của thập niên 1930 có giống như khuôn mẫu của năm 1943 hay không.  Bởi một việc, các áp lực kinh tế trong thập niên 1930 đã khiến cho các điền chủ tính các giá thuê đất cao hơn một cách tương ứng, và buộc các tiểu điền chủ phải vay tiền với lãi suất cao hơn.  Nhiều đất dai đã được sang nhượng qua tay, và đã có một cơ hội cho các kẻ tàn nhẫn nhiều tiền để đầu tư thụ tạo các tài sản tại mọi phần đất nước, không chỉ ở các vùng đất mới thuộc miền tây.
            Như trong lãnh vực giáo dục và chức vụ, điều cần thiết để nhận thấy rằng không phải tất cả các điền chủ quan trọng đều xuất hiện trong quyển sổ tay 1943, và trong thực tế, ít cá nhân mà sự nghiệp như các điền chủ được khảo cứu một cách đễ dàng nhất đã lại không được gồm trong đó. Trường hợp nói đến là của ông Trần Trinh Trạch (sinh năm 1874), người vẫn còn sống vào lúc có cuộc cải cách ruộng đất năm 1956-7, khi ông ta phủ nhận đã sở hữu nhiều đến 28,000 mẫu đất. 12  Ông đã bắt đầu cuộc sống trong một gia đình người Hoa nghèo khổ tại tỉnh Bạc Liêu, và đã trở thành một thư ký chính phủ trong năm 1898.  Như một thông dịch viên giữa các viên chức người Pháp và các thương gia gốc Hoa, ông đã có đủ cơ hội để làm giàu cá nhân hầu về hưu vào năm 1903 và tậu một số đất đai.  Việc cho vay tiền giúp ông kiếm nhiều lợi  nhuận hơn nữa, và vào năm 1930, ông đã xây dựng được một tài sản gồm 15,000 mẫu đất, con số sau này ông đã bổ túc thêm 10,000 mẫu nữa trong suốt thập niên 1930. Sự vắng mặt của chính ông trong quyển sổ tay 1943 cho thấy sự giàu có không thôi đã không phải là một tiêu chuẩn cho sự bao gồm.
            Trước khi tiến xa hơn, chúng ta cần dừng lại để đề cập ngắn gọn đến tám người phụ nữ của Miền Nam Việt Nam xuất hiện trong quyển sổ tay 1943.  Năm người trong họ xuất hiện chỉ vì họ là vợ, góa phụ hay thân nhân của các người đàn ông nổi tiếng.  Trong một loại đặc biệt của riêng bà, có bà Nguyễn Hữu Hào: con gái của ông Lê Phát Đạt, một trong những người nổi tiếng nhất trong các kẻ cộng tác (collaborateurs) [với Pháp] hồi thế kỷ thứ mười chín.  Bà kết hôn với ông Nguyễn Hữu Hào, người thuộc một gia đình điền chủ Công Giáo khác, nhưng đã mất đi trong năm 1937; con gái của họ được chọn làm vợ và hoàng hậu của ông vua Bảo Đại.  Bà ta chính vì thế thuộc vào một lớp tinh hoa trong giới tinh hoa của các gia đình người Nam Kỳ vừa có sự giàu có lẫn sự chấp nhận xã hội cao nhất trong mắt người Pháp.  Một người khác trong năm người đàn bà này là cháu của một kẻ cộng tác ban đầu khác khác, Trần Bá Lộc, và đã kết hôn với một người con trai của nhân vật nổi tiếng Trương Vĩnh Ký.  Mặt khác, ba người phụ nữ trong số tám người có thể chứng minh cho sự bao gồm bởi chức nghiệp chuyên môn của chính họ.  Một người là bác sĩ y khoa, được đào tạo ở Pháp và tại Hà Nội; người thứ nhì là một giáo chức tại Trường Nữ Sinh (École de Jeunes Filles) tại Sàigòn; và người thứ ba là một kịch sĩ, Lê Thị Phỉ [Phỉ?], người đã xuất hiện như cô đào hàng đầu của sân khấu cải lương (reformed) Việt Nam nở rộ từ thập niên 1930.  Dù thế, như được hay biết rõ, các phụ nữ Việt Nam thụ hưởng một vai trò có vài tầm quan trọng đàng sau sinh hoạt chính trị và xã hội Việt Nam, điều được xem là một sự canh cải đáng kể cho phụ nữ rời khỏi nhà trước khi kết hôn và để theo học cho một chức nghiêp độc lập.  Ba người phụ nữ chuyên nghiệp này vì thế tượng trưng cho các sự khởi sự đầu tiên của một khuynh hướng rất quan trọng trong thực tế.

III
            Quyển sổ tay 1943 cung cấp cho chúng ta một căn bản chi tiết tiểu sử cho sự thảo luận các đặc tính chính của lớp có thể được mệnh danh là “thượng tầng tinh hoa” của Đông Dương thuộc Pháp.  Hai nhóm người, tuy thế, vẫn chưa được nói đến nhưng phải được nhìn như thuộc vào giới tinh hoa theo một nghĩa rộng hơn.  Một là nhóm trong thực tế có một ít đại diện trong quyển sổ tay: tức những người thuộc vào văn hóa truyền thống nhiều hơn là vào văn hóa Pháp.
            Trong nhóm đầu tiên có thể nói đến ba nhà sư Phật Giáo trong quyển sổ tay 1943: cả ba đều là trụ trì của các đền thờ (“chùa”) tại khu vực Sàigòn-Chợ Lớn, và con đường tu đạo của họ thì giống nhau. Ông Huỳnh Văn Phước, thí dụ, sinh ra tại tỉnh Gia Định năm 1883, thụ giới ở chùa Giác Viên tại Chợ Lớn lúc bảy tuổi, và đã dành suốt cuộc đời của ông để tu đạo ở đó.  Trong năm 1941, ông đã lên đén hàng giáo phẩm cao nhất của Phật Giáo ở Việt Nam, tức hòa thượng [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch]; và trong năm 1943 ông là trụ trì của chùa.  Trong cuộc đời tu đạo của mình ông không có liên hệ nào cả với giới tinh hoa do Pháp đào tạo mà chúng ta đang thảo luận; nhưng không thể không có khả năng rằng ông có liên quan đến các người trở thành viên chức hay hành nghề chuyên môn.  Một cách chính xác về lý do tại sao ba nhà sư Phật Giáo này đã được lựa ra, từ một số lượng đông đảo các trụ trì của các ngôi chùa tại Nam Kỳ, thì khó mà biết rõ; có thể được nghĩ rằng là do các thân nhân của họ.  Hai người khác cũng có thể được nêu như một phần của loại này: không phải là các nhà sự nhưng là những người có sự giáo dục bằng tiếng Trung Hoa.  Về ông Thái Xuân Lai [?], chúng ta chỉ biết rằng học vấn của ông là bằng Hoa ngữ, và rằng trong năm 1935 ông được phong hàm đốc phủ sứ và được nhận lãnh Huy Chương Danh Dự (Légion d’Honneur).  Sự nghiệp của ông không được  biết rõ; ông sinh ra tại tỉnh Cần Thơ, và điều không phải là không khả dĩ rằng ông ta trong thực tế là một thành viên lãnh đạo của cộng đồng người Hoa.  Ông Nguyễn Chánh Sắt, sinh ra tại Châu Đốc năm 1869, cũng có thể thuộc dòng dõi Trung Hoa; nhưng ông cũng là một học giả, người đã làm nhiều việc để nối liền hai văn hóa, cổ truyền và hiện đại.  Cho đến năm 1906, ông chính yếu là một thầy giáo dạy tiếng Trung Hoa; từ đó trở về sau, ông bước vào nghề viết báo và xuất bản, phiên dịch nhiều sách tiếng Hoa thành văn tự la mã hóa, chữ quốc ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], và có một lúc làm biên tập cho tờ báo Nông Cổ Mín Đàm.  Nhưng vào năm 1943 ông đã là một người già cả, và không dễ dàng để lập lại sự nghiệp của ông trong các thế hệ trẻ hơn tại Nam Kỳ: trong số các nhân vật văn chương nổi tiếng, ông có nhiều đối tác tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam hơn là tại miền Nam.
            Đạo Phật không phải là tôn giáo duy nhất có đại diện trong quyển sổ tay 1943.  Có lẽ điều đáng ngạc nhiên, chỉ có một tu sĩ Công Giáo sinh ra tại Nam Kỳ được gồm trong đó: tức ông Nguyễn Bá Tòng, sinh ra tại Gò Công năm 1868, người trong năm 1935 đã trở thành vị giám mục Việt Nam đầu tiên tại Phát Diệm (Bắc Phần).  Nhưng quyển sổ tay cũng bao gồm một số người, mặc dù sự kiện này không được nói ra, được biết là thuộc vào một giáo phái mới ở Nam Kỳ, đạo Cao Đài. 13  Theo giáo lệnh của tôn giáo đó, các tu sĩ của họ trong đạo được phép cũng có một chức nghiệp bên ngoài (trừ khi họ là các nhân vật có giáo phẩm rất cao), khiến cho các người quan tâm đến là các viên chức hồi hưu.  Ông Võ Văn Thơm [?] (sinh năm 1868, tại tỉnh Vĩnh Long), đã là một thông dịch viên tại Sở Tư Pháp (Service Judiciaire) từ năm 1890 đến 1915, và sau này là một hội viên của Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial).  Trong năm 1926, vợ ông trở thành một đệ tử của người sáng lập đạo Cao Đài, ông Ngô Văn Chiêu, và hai năm sau đó, chính ông đã trở nên tích cực trong phong trào tại Cần Thơ.  Ông Nguyễn Văn Kiên [?] (sinh năm 1878, tại tỉnh Mỹ Tho) phục vụ trong ngành hành chính từ năm 1898 đến 1932, và đã hồi hưu với hàm đốc phủ sứ;; không lâu sau đó ông được biết là người cầm đầu đạo Cao Đài tại tỉnh Mỹ Tho, mặc dù ông bị nghi ngờ bởi các đối thủ trong đạo của ông về việc bán mình cho các nhà chức trách Pháp nhằm phân hóa giáo phái thành hai cánh.  Có thể có các người khác được ghi danh trong quyển sổ tay cũng đi theo đạo Cao Đài.
            Tuy nhiên không phải tất cả các nhân vật quan trọng của đạo Cao Đài đều có vẻ được nhìn với sự chấp nhận bởi người Pháp, bởi nhiều người trong họ đã biểu lộ vào năm 1942 rằng họ chống lại Pháp và thân với Nhật Bản.  Một số còn bị bắt giam bởi chính phủ.  Bởi trong đạo Cao Đài, mối quan hệ truyền thống giữa tôn giáo và chính trị đã tìm thấy sự diễn đạt mới, và nó chứng tỏ đặc biệt hấp dẫn đối với các người mà nền giáo dục Pháp không có nghĩa là sự cam kết chính trị, cũng như đối với một số người nhận thấy nó đã không dẫn đến sự thành công cá nhân.  Hai trong các nhân vật Cao Đài quan trọng nhất năm 1943 là các ông Nguyễn Ngọc Tương và Phạm Công tắc.  Ông Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951) đã có một sự nghiệp không khác chút nào với sự nghiệp của nhiều người trong số 57 nhà hành chính được gồm trong quyển sổ tay: ông đã theo học tại các trường Mỹ Tho và Chasseloup-Laubat, sau đó bước vào ngành hành chính năm 1902; ông đã leo lên tới ngạch tri phủ  vào năm 1930, khi ông về hưu để dành trọn thời giờ của mình cho tôn giáo.  Ông thuộc một gia đình hạnh phúc và có một nền giáo dục tốt, và trong các tình huống khác, địa vị đứng đầu thánh thất Cao Đài ở Bến Tre mà ông đã thành lập năm 1934 có thể dư điều kiện để ông được xem là thuộc vào giới tinh hoa.  Người tranh dành lớn nhất của ông trong phong trào, ông Phạm Công Tắc (1893-1958), kẻ đã trở thành người đứng đầu giáo phái tại Tây Ninh năm 1934, cũng là một cựu nhân viên hành chính, nhưng ở cấp thấp hơn nhiều, làm công việc thư ký.  Ông ta đã về hưu năm 1926 để đóng một vai trò lãnh đạo tại Tây Ninh, và vào năm 1943 bị bắt giam vì các tình cảm thân Nhật Bản của ông.
            Các người theo đạo Cao Đài, đến một tầm mức đáng kể, đã quay lưng với sự giáo dục của Pháp và tìm kiếm sự thỏa đáng trong một sự giải thích mới của một tôn giáo truyền thống.  Các người Việt Nam khác với một sự giáo dục của Pháp, đặc biệt trong số những người đã từng theo học ở các đại học Pháp, quay lưng lại với cả nền văn hóa cổ truyền lẫn cơ hội thăng tiến dưới sự bảo trợ của thực dân; thường họ trở thành các chính trị gia cánh tả.  Không thể đưa ra cùng loại phân tích có hệ thống về sự nghiệp của họ như đã được toan tính với các nhân sĩ trong quyển sổ tay, nhưng có một ít thí dụ rất nổi tiếng.  Trội bật lên là trường hợp của ông Nguyễn An Ninh (1900-1943), người đã theo học Đại Học Hà Nội trong thời gian ngắn khoảng năm 1918, trước khi theo học về luật tại Pháp.  Ông về nước với mảnh bằng cử nhân (licence) trong năm 1925, nhưng vào lúc đó đã sẵn tham gia vào việc thành lập một tờ nhật báo cấp tiến bằng tiếng Pháp tại Sàigòn, tờ La Cloche Fêlée (Cái Chuông Rè), và đã viết các bài báo đòi hỏi nước Pháp phải giữ đúng các lý tưởng của chính nó về tự do và bình đẳng tại Việt Nam.  Ông không bao giờ tính toán việc đi làm quan chức, nhưng vào năm 1927 đã thành lập một hội kín nhằm thiết lập một quốc gia Việt Nam theo xã hội chủ nghĩa; vì thế ông đã bị bắt giữ và tống giam.  Ông lại tích cực trong chính trị tả phái sau khi được phóng thích, và trong năm 1937 đã tìm cách tổ chức một Hội Nghị Toàn Đông Dương (All-Indochina Congress), cũng như một loạt các cuộc đình công.  Bị bắt giam một lần nữa, ông đã chết năm 1943 tại Poulo Condore (Đảo Côn Sơn). 14  Hai nhân vật cánh tả nổi tiếng khác, cả hai theo chủ thuyết của Trotsky, cũng đã theo học đại học tại Pháp.  Ông Tạ Thu Thâu, trở về từ Pháp năm 1932 sau một thời hoạt động tích cực trong chính trị của sinh viên ở đó, đã là linh hồn thúc đẩy đàng sau tờ báo của phe Trotskyist, tờ La Lutte (Tranh Đấu); phụ tá thân cận của ông là ông Phan Văn Hùm (sinh năm 1902), người mà sự học tập về triết lý tại đại học Sorbonne tạo điều kiện để ông trở thành lý thuyết gia của nhóm, cũng như tác giả của các tác phẩm về triết học Trung Hoa. 15  Chủ nghĩa Trotskyism đặc biệt lôi cuốn đối với thanh niên Việt Nam học tập tại Pháp, đã không được chấp nhận đối với Việt Minhcũng như với phe dân tộc chủ nghĩa “cánh hữu”.

IV
            Sự phân tích trên đây về thượng tầng tinh hoa năm 1943, cùng với một số sự nhận định về các giới hạn của nguồn tài liệu chính yếu sử dụng, làm phát sinh một số câu hỏi về bản chất của giới tinh hoa chỉ có thể được trả lời bằng việc cứu xét đến bằng cớ khác: thí dụ, bằng cớ cung cấp bởi các nhật báo bằng tiếng Pháp, mà số lưu hành được giới hạn trong cộng đồng do Pháp giáo dục.  Đặc biệt, người ta có thể thắc mắc rằng giới tinh hoa này thực sự là một cộng đồng đồng nhất đến đâu, tách biệt với phần còn lại của xã hội.  Câu hỏi này đòi hỏi một số sự khảo sát đến khuôn khổ định chế của giới tinh hoa, vốn được phát triển sâu rộng hơn trong các thập niên 1930 và 1940 so với tình trạng của thời thuộc địa ban sơ.
            Các định chế mới phát triển trong thế kỷ thứ hai mươi có thể được phân chia thành ba loại chính: giáo dục, kinh tế, và chính trị.  Các định chế giáo dục thực sự được theo học bởi thanh niên Việt Nam muốn tìm kiếm một sự giáo dục của Pháp đã sẵn được ghi nhận.  Về mặt xã hội, ảnh hưởng của chúng sẽ là việc tạo lập các bước khởi đầu của một cảm nhận về cộng đồng trong số các học trò và sinh viên của chúng, và ý nghĩa này đã được tăng cường bởi một số các định chế khác theo đó các cựu học viên có thể gia nhập sau này trong cuộc sống.  Có lẽ có tầm tầm quan trọng đặc biệt là Hội Ái Hữu Các Cựu Học Sinh Trường Chasseloup-Laubat (Amicale des Anciens Élèves du Collège Chasseloup-Laubat) đã thể hiện vào năm 1919 khi ông Bùi Quang Chiêu là chủ tịch của Hội. 16  Nó đã đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện, vào thời điểm đó, của đảng Lập Hiến (Constitutionalist Party) dưới sự lãnh đạo của ông Chiêu.  Một nhóm khác, mở rộng vòng tay hơn của các người Việt Nam có học thức, là Hội Giáo Dục Tương Trợ Của Nam Kỳ (Socíété d’Enseignement Mutuel de la Cochinchine), được thành lập vào khoảng năm 1908; đến năm 1918, nó đã có bảy chi nhánh tại các tỉnh khác nhau, và tiếp tục bành trướng trong thập niên 1920. 17  Nhiều nhân sĩ trong sổ tay 1943 đã tích cực hoạt động trong đó, và nó có lần được nói là có liên hệ chặt chẽ với Đảng Lập Hiến.  Các hội này bao gồm chủ yêu, nếu không phải toàn thể, người Việt Nam.  Cũng có ít nhất một hội văn hóa mà thành viên chủ yếu là người Pháp nhưng vào thập niên 1930 có bao gồm một số người Việt Nam: Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Socíété des Études Indo-chinoises), được thành lập năm 1883.  Năm 1938, hội có bốn mươi hội viên người Việt Nam, kể cả các hội viên qua thư tín, và hai người Việt Nam ngồi trong ủy ban; tổng số hội viên vào lúc đó chỉ khoảng gần 300 người. 18
            Người Việt Nam theo học tại Paris ở vào một tình trạng khác biệt, nơi mà họ chưa bao giờ nhiều hơn một thiểu số tí hon tại các trường mà họ theo học.  Bước tiến đầu tiên cung cấp khuôn khổ định chế cho người Việt Nam tại Pháp là sự tạo lập một Hội Tương Trợ Các Người Đông Dương (Association Mutuelle des Indochinois) tại Paris trong năm 1920.  Hội đã được tái tổ chức trong năm 1922, và đã có 34 người Việt Nam trong buổi lễ khai mạc của hội, ngoài Hoàng Đế Khải Định và thượng thư Phạm Quỳnh, đang thăm viếng nước Pháp vào lúc đó.  Trong thập niên 1920, việc theo học tại Paris ngày trở nên thời thượng, và trong năm 1928 các bước tiến đã được thực hiện để tạo lập một Nhà Đông Dương (Maison d’Indochine) tại Thành Phố Đại Học (University City), nay vẫn còn hiện hữu ở đó. 19  Một trong những tính chất quan trọng của các định chế này là, không giống như các định chế tại chính Nam Kỳ, chúng đã tập hợp người Việt Nam từ các miền khác nhau của đất nước, chính từ đó ở một khía cạnh nào đó, phá vỡ chủ nghĩa cấp miền địa phương vốn luôn luôn hiện diện ở mọi cấp, trừ các mức độ xã hội cao cấp nhất.
            Các định chế kinh tế của giới tinh hoa bao gồm một số doanh nghiệp có bản chất thương mại, các tổ chức khác có mục đích bảo vệ các nhóm quyền lợi.  Một trong các tổ chức quan trọng nhất, hiện diện tại hầu hết các tỉnh, là Nghiệp Đoàn Canh Nông (Syndicat Agricole).  Tổ chức sớm nhất được thành lập là nghiệp đoàn tại tỉnh Mỹ Tho, trong năm 1912.  Nhiều tổ chức được đề cập đến trong tiểu sử của các nhân sĩ trong sổ tay năm 1943, các kẻ đã đóng một vai trò hàng đầu trong các hoạt động của chúng: những nghiệp đoàn tại Long Xuyên và Cần Thơ, được thành lập vào năm 1919, của Vĩnh Long, được lập ra trong năm 1922, và các nghiệp đoàn của Biên Hòa và Bà Rịa, cả hai thành hình vào năm 1927.  Trong năm 1919, cũng có thành lập một Nghiệp Đoàn Toàn Quốc các Người Trồng Lúa Gạo (Syndicat National des Riziculteurs) nhằm phát huy các quyền lợi của các chủ điền.
            Sự thành lập của nó là một phần của một nỗ lực tổng quát vào lúc đó, về phía các thành viên của giới tinh hoa Việt Nam, nhằm phá vỡ thị trường độc quyền của người Trung Hoa trong hoạt động thương mại và kỹ nghệ tại Nam Kỳ; nó bao gồm một cuộc tẩy chay không thành công mậu dịch Trung Hoa, và sự thành lập một Hội Thương Mại An Nam (Socíété Commercial Annamite). 20  Phong trào không thành công lắm, nhưng nó đưa đến sự khai sinh một khối lượng nào đó trong hoạt động doanh nghiệp Việt Nam, và đã mang lại sự thúc đẩy cho nỗ lực của các chủ điền Việt Nam để bảo vệ các quyền lợi của chính các nhà sản xuất gạo.  Ông Trương Văn Bền, người mà sự nghiệp đã được đề cập đến trước đây, đã là một trong những người thành công nhất có hoạt động kinh doanh khởi sự vào thời điểm này.  Sau này, các định chế kinh tế khác được phát triển, đặc biệt trong lãnh vực tín dụng.  Hội Tín Dụng An Nam (Société Annamite de Crédit), thành hình vào năm 1932, được điều hành bởi một nhóm bao gồm nhiều nhân sĩ trong sổ tay 1943: giám đốc của hội là ông Lê Văn Gong [?] (sinh năm 1896), đã thu thập được các kinh nghiệm kinh doanh khi làm việc tại các ngân hàng Pháp tại Hán Khẩu và Thiên Tân [2 thành phố của Trung Hoa, chú của người dịch] giữa các năm 1919 và 1926. 21
            Đời sống kinh tế của Đông Dương vào thời điểm này bị chi phối tối hậu bởi người Pháp, và chính người Pháp đã khống chế tại các hội đồng lập ra để quy định về mậu dịch, canh nông v.v…  Phòng Canh Nông (Chambre d’Agriculture) và Phòng Thương Mại (Chambre de Commerce) mỗi phòng gồm hai hội viên Việt Nam, chống lại mười hay hơn nữa số người Pháp.  Trong năm 1928, Toàn Quyền đã thiết lập một hội đồng để đại diện các quyền lợi kinh tế quan trọng của toàn Liên Hiệp Đông Dương: Đại Hội Đồng Các Quyền Lợi Kinh Tế và Tài Chính của Đông Dương (Grand Conseil des Intérêts Économiques et Financiers de l’Indochine). 22  Trong số 23 hội viên bản xứ của nó, đối với 28 người Pháp, thường có khoảng năm hay sáu người từ Nam Kỳ.  Trong năm 1939, hội đồng được cải cách, để loại bỏ tất cả sự chỉ định các hội viên của viên Toàn Quyền, và cho phép một loạt rộng rãi hơn các quyền lợi sẽ được đại diện.  Nhưng chỉ hơn một năm sau đó, trong Tháng Mười Một 1940, nó đã bị đình chỉ vì lý do tình trạng chiến tranh và không bao giờ được phục hồi.  Kế thân của nó, Hội Đồng Liên Bang (Conseil Fédéral), được lập ra trong năm 1941 và sau đó được tái tổ chức vào năm 1943, hoàn toàn là một bộ phận được chỉ định, mặc dù nó đã có một đa số người bản xứ vào năm 1943.  Nhiều nhân sĩ trong quyển sổ tay 1943 đã đóng giữ một vai trò trong các bộ phận khác nhau này.  Một thí dụ nổi bật là ông Nguyễn Tấn Được [?], sinh ra tại tỉnh Sa Đéc năm 1884, đã phục vụ trong chính quyền từ 1904 đến 1918, sau đó từ chức để thành lập Nghiệp Đoàn Canh Nông (Syndicat Agricole), trong đó ông là chủ tịch cho đến năm 1923.  Ông thuộc vào Phòng Canh Nông (Chambre d’Agriculture) từ 1925 đến 1938, và vào Đại Hội Đồng Các Quyền Lợi (Grand Conseil des Intérêts, 1929-37.  Từ năm 1922 đến 1939, ông cũng là một hội viên của Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ.    
            Nếu có bất kỳ định chế nào tại Nam Kỳ có thể được nói đã là tiêu điểm cho hoạt động chính trị của phía giới tinh hoa, đó chính là Hội Đồng Thuộc Địa (Conseil Colonial)23  Được thành lập năm 1980 [sic, nhiều phần phải là 1890, chú của người dịch], không lâu sau khi có sự bổ nhiệm viên thống đốc dân sự đầu tiên cho Nam Kỳ, các thành viên Việt Nam ban đầu của nó là những người mà người Pháp có thể trông cậy do sự vâng lời ngoan ngoãn trước bất kỳ điều gì mà chính phủ đưa ra.  Tiến Sĩ Osborne nêu ý kiến rằng nhiều người trong họ đã chỉ trông chờ một mệnh lệnh của Pháp, ngay cả trong việc theo dõi các cuộc thảo luận, chứ đừng nói đến nói việc tham gia một cách hữu hiệu.  Nhưng trong thập niên thứ nhì của thế kỷ thứ hai mươi, một thế hệ mới của người Việt Nam có học thức hơn, đã bắt đầu khai triển một thái độ phê phán hơn đến các công việc, và bắt đầu bày tỏ các ý tưởng của họ tại hội đồng.  Chính trong khung cảnh này mà một nhóm lãnh đạo bởi ông Bùi Quang Chiêu đã thành lập Đảng Lập Hiến năm 1917, và đã tổ chức phong trào kinh tế chống lại người Hoa năm 1919.  Các đòi hỏi của họ về sự thay đổi kinh tế, giáo dục, và chính trị đạt được một số thành công nhỏ trong ít năm sau đó.  Đặc biệt, trong năm 1922 chính Hội Đồng Thuộc Địa được cải tổ: trước đây nó có mười tám hội viên, bao gồm cả sáu người Việt Nam được bàu cử chỉ bởi 1,500 người, các đại biểu từ các hội đồng xã; giờ đây, số hội viên của nó đã gia tăng lên 22, gồm cả 10 người Việt Nam, và những người kể sau này sẽ được bàu cử theo quyền công dân cho phép khoảng 21,000 người được bỏ phiếu. 24  Điều này đã mang lại lợi thế cho giới tinh hoa thành phố, chống lại ảnh hưởng trước đây của các thân hào thôn xã, và các đảng viên Lập Hiển hưởng lợi từ sự thay đổi.  Trong năm 1926, họ có được tất cả mười ứng cử viên của mình được bàu trong vòng bỏ phiếu đầu tiên, và đã có thể khống chế phe Việt Nam trong hội đồng từ đó cho đến cuộc bàu cử năm 1939, khi ba người theo phe Trotsky (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, và Trần Văn Thạch) đánh bại các đối thủ phe Lập Hiến của họ.  Mặc dù hội đồng đã không trao cho các hội viên Việt Nam của nó bất kỳ thực quyền nào cả, nó phục vụ như một tiêu điểm cho một số hoạt động chính trị đơn giản chỉ bởi sự kiện rằng nó liên can đến các cuộc bàu cử, và tư cách hội viên mang lại tư thế, nếu không phải là điều nào khác.  Ít nhất mười lăm nhân sĩ trong sổ tay 1943 đã là hội viên của hội đồng này vào một thời khoảng nào đó.
            Sự phát triển định chế khác có tầm quan trọng cho sự tăng trưởng sự nhận thức về chính trị cũng như văn hóa trong giới tinh hoa là sự tạo lập một số tờ báo bằng Pháp ngữ, được sở hữu, hay viết, bởi người Việt Nam.  Ở đây cũng vậy, Đảng Lập Hiến đã dành được sự lãnh đạo, với tờ La Tribune Indigène (Diễn Dàn Bản Xứ), thành lập năm 1917; nó tồn tại mãi cho đến năm 1925, và sau này được thay thế bởi tờ La Tribune Indochinoise (1926-42).  Một tờ báo ban đầu khác, với khuynh hướng cải cách là tờ L’Écho Annamite (Tiếng Vang An Nam) của ông Nguyễn Phan Long (1920-31).  Trong suốt thập niên 1920, cũng có một số tờ báo Pháp ngữ cấp tiến hơn, nổi bật là tờ La Cloche Fêlée của Nguyễn An Ninh (1923-26); tờ L’Annam của ông Phan Văn Trường (1926-28), tờ báo mà cuộc sống được kết thúc trong một phiên tòa chính trị quan trọng xét xử chủ biên của nó cùng các ký giả khác; và tờ La Lutte của ông Tạ Thu Thâu (1934-39).  Nhưng cũng có xuật hiện một số tờ báo cánh hữu thuộc các người Việt Nam có quan tâm độc nhất là cung cấp một tiêu điểm cho lòng trung thành với chính quyền thực dân, thí dụ, tờ Progrès Annamite (Sự Tiến Bộ Của An Nam) của ông Lê Quang Trinh [?], thành lập năm 1924 sau một cuộc tranh luận giữa ông Trinh và ông Bùi Quang Chiêu; và tờ L’Impartial {Khách Quan, Vô Tư] (1917-42), thành lập bởi người Pháp lai (métis] Henry Chavigny.  Vào thập niên 1930, cũng có một nền báo chí tích cực bằng Việt ngữ, và mặc dù báo chí quốc ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] chịu các hạn chế kiểm duyệt gắt gao, sự xuất hiện của một tờ nhật báo hay tuần báo bị yểu tử sau một tờ khác cho thấy rằng đã có một nhu cầu gia tăng về văn chương của loại này, và một khát vọng còn tích cực hơn nữa để đáp ứng nhu cầu.  Bảy tờ nhật báo (hay ba lần một tuần) và mười chín tờ tuần báo bằng Việt ngữ hiện diện tại Sàigòn trong năm 1938 là kết quả. 25  Dĩ nhiên, các tờ báo này đã không chỉ hạn chế vào giới độc giả biết tiếng Pháp; vì thế, chúng không thuộc, theo nghĩa nghiêm ngặt, phạm vi của cuộc nghiên cứu này.  Nhưng cả báo bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt đều quan trọng trong việc góp phần tạo ra một loại bàu không khi chính trị mới, trong đó “công luận” có thể là một yếu tố tiềm năng và trong đó một loại tinh hoa mới có thể bắt đầu thao diễn ảnh hưởng văn hóa và chính trị.
            Song khi tất cả các điều này đã được trình bày, không thể tránh khỏi sự kiện rằng các loại định chế mới này đã phát triển trên nền tảng của một khuôn khổ định chế cổ xưa hơn.  Hoàng triều và các định chế liên hệ không còn quan trọng tại miền Nam; nhưng thị tộc truyền thống vẫn tồn tại và có thể còn được tăng cường hơn bởi sự thăng trầm của một đất nước nằm dưới sự thống trị của ngoai bang. Nhóm thân nhân quyến thuộc hay thị tộc, trong thực tế, quá mạnh – ngay trong năm 1943 – đến nỗi người ta phải thú nhận sau hết rằng một cuộc thăm dò giới tinh hoa Việt Nam qua tiểu sử của các cá nhân không thể chứa đựng toàn thể sự thực về giới tinh hoa đó.  Trong một số khía cạnh nào đó, đúng là cá nhân được tự do để tạo đời sống theo điều mà người ấy sẽ hay có thể làm.  Nhưng sự thành công của một người không chỉ là của riêng của  người đó: các thành quả của nó được kỳ vọng sẽ được chia sẻ cho toàn thể gia tộc người đó, và tài sản theo truyền thống là một vấn đề của gia tộc chứ không phải cho các quyết định cá nhân.  Không phải toàn thể thân nhân, dĩ nhiên, sẽ thụ hưởng ở cùng mức độ từ sự thành công của một viên chức cao cấp hay một viên kỹ sư giàu có: những thân thích gần nhất sẽ nhận được phần lớn, và những kẻ khác có lẽ chỉ nhận được một cách gián tiếp.  
            Mỗi người trong 133 đàn ông và 8 phụ nữ mà sự nghiệp đã là chủ đề chính của cuộc khảo sát này phải được nhìn như một thành viên của một nhóm thân nhân quyến thuộc. Điều rất có thể được lập luận rằng giới tinh hoa đích thực của Nam Kỳ không bao gồm các cá nhân nhiều cho bằng số các gia tộc nổi tiếng, trong phạm vi đó những người này chỉ là những cá nhân trội bật nhất.  Sự hiểu biết như chúng ta có được về các gia tộc này cho thấy chúng liên kết với nhau qua hôn thú, thường xuyên qua các sự kết hôn được dàn xếp theo cùng trình độ về kinh tế.  Trừ khi tất cả điều này được cứu xét đến, một sự phân tích thống kê không thôi về các sự nghiệp cá nhân có thể mang theo cùng với nó mối nguy hiểm của việc bị đánh lừa một cách nghiêm trọng./-                                    
___
CHÚ THÍCH
1. Milton E. Osborne, The French Presence in Cochinchina and Cambodia, Rule and Response (1859-1905), Ithaca, 1969.
2. Hà Nội, 1943: Tập sách này rất hiếm, bản sao dùng cho bài viết này được chụp từ một vi phim tại Trung Tâm East-West Centre, Honolulu.  Quyển sách được xếp theo mẫu tự ABC và không đánh số trang.  
3. Về trường này và các định chế giáo dục ban đầu khác, xem Osborne, sách đã dẫn, các trang 105, 160.
4. Osborne, sách đã dẫn, trang 4.
5. D. Lancaster, The Emancipation of French IndoChina, London, các trang 209, 283, 431.
6. Annuaire Administratif d’Indochine 1938-9, từ trang 544 trở về sau.  Tuy nhiên, trong số 159 người này, chỉ có khoảng hai mươi người leo lên ngạch cao cấp nhất, đốc phủ sứ.
7. Tham khảo, Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Paris, 1952, các trang 66, 173, 270.
8. Muốn có bài viết đầy đủ hơn về chức nghiệp của ông ta, xem, R. B. Smith, “Bùi Quang Chiêu and the Constitutionalist Party in French Cochinchina”, Modern Asian Studies, vol. 3: 2, April 1969, các trang 131-50. [Bản dịch sẽ được đăng tải nơi đây].
9. Bùi Quang Đại [?], ở Mỏ Cày (chết năm 1930), La Tribune Indochinoise, 25 April 1930.
10. Anh Văn và J. Roussel, Movements Nationaux et Lutte de Classes au Vietnam (Publications de la IVe Internationale), Paris, 1947?, trang 66; trưng dẫn một diễn văn của Toàn Quyền Pasquier hôm 25 Tháng Mười Một, 1931.  Cùng nguồn tài liệu nói rằng ông Bùi Quang Chiêu có 1,500 mẫu đất; và ông Nguyễn Văn Kiên [?] (được nói đến bên dưới, nơi trang 475 [của nguyên bản], có 5,500 mẫu đất.
11. Y. Henry, Économie Agricole de l’Indochine (Hanoi, 1932).
12. Robert L. Sansom, The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnam, Cambridge, Mass., 1970, trang 24; tin tức dựa trên các cuộc phỏng vấn tại tỉnh Bạc Liêu.
13. Về lịch sử đạo Cao Đài, xem R. B. Smith, “An Introduction to Caodaism; I: Origins and Early History”, Bulletin of the School of Oriental and African Studies (London), xxxiii, 1969-70, từ trang 336 trở đi.  Nó bao gồm các chi tiết về tiểu sử của các ông Nguyễn Ngọc Tương, Phạm Công Tắc và các nhân vật Cao Đài hàng đầu khác.
14. Về chi tiết sự nghiệp của ông, xem Avenir du Tonkin, 5 May 1926; và nhật báo ở Sàigòn, tờ Dân Quyền, 15-16 August, 1964.
15. Tham khảo M. Durand và Nguyễn Trần Huân, Introduction à la Littérature Vietnamienne, Paris 1969, các trang 125, 211-12; và I. M. Sacks, “Marxism in Vietnam”, trong sách biên tập bởi F. N. Trager, Marxism in South-east Asia, Stanford, 1960, từ trang 127 trở về sau.
16. La Tribune Indigène (Saigon), 5, 29 July 1919.
17. Cùng nơi dẫn trên, 27 June 1918; 5 March 1928, v.v…
18. B. S. E. I., n. s., xiii, no. 2, 1938, các trang 253-63.
19. La Tribune Indigène, 15 Feb. 1921, 19 Sept. 1922, và 27 Aug. 1928.
20. Cùng nơi dẫn trên, 5 Sept. 1919, v.v…
21. La Tribune Indochinoise, 11 Jan. 1932.
22. Roger Pinto, Aspects de l’Évolution Gouvernementale de l’Indochine Francaise, Saigon and Paris, 1946, từ trang 54 trở về sau.
23. Cùng nơi dẫn trên, từ trang 43 trở về sau.
24. Cùng nơi dẫn trên, và “Rapport du Gouverneur de la Cochinchine, 4e trim., 1922”, Văn Khố Quốc Gia, Sàigòn, S. L. 366
25. Được đếm từ Mục Lục Báo Chí Việt Ngữ 1865-1965, Sàigòn, 1966.           
-----
NguồnR. B. Smith, The Vietnamese Élite of French Cochinchina, 1943, Modern Asian Studies, Cambridge University, London, 6, 4(1972), các trang 459-482.

Ngô Bắc dịch
30/11/2009   
    

© gio-o.com 2009



Bài đăng cũ hơn Trang chủ


Khảo Sử trên Facebook